vanban.org

Bản án 63/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 10/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng L phạm tội“Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Đăng L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2018. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đăng L phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Lu…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng L phạm tội“Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2018/HS-ST
Ngày: 10-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Cao Đình Nhân

Bà Nguyễn Thị Xuân Uyên

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quốc Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết Sương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 67/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Phạm Đăng L, sinh ngày 07 tháng 01 năm 2000 tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: Số 19, tổ 17, thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đăng T, sinh năm: 1963 và bà Đỗ Thị Q, sinh năm: 1967; Anh chị em ruột: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất là bị cáo; vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2018, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

+ Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1986.

Trú tại: Số 3/6, thôn Q, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

+ Ông Đoàn Ngọc T1, sinh năm 1956.

Trú tại: Số 18/2, thôn Q, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 00 ngày 09/01/2018, Phạm Đăng L đi bộ từ nhà ra ngoài đường xem nhà nào sơ hở thì lấy trộm tài sản; khi đến nhà bà Nguyễn Thị Thanh T tại số 3/6, thôn Q, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, L quan sát thấy cửa hông mở, không có ai ở nhà nên đã có hành vi đột nhập vào phòng ngủ, lục trong tủ quần áo lấy 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung, 01 con heo đất đã cũ, 02 ví da đã cũ và rách. Sau đó L đi ra ngoài bị bà Nguyễn Thị Thanh T phát hiện. Tại cơ quan điều tra Phạm Đăng L khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản và khai nhận thêm các vụ trộm cắp tài sản khác:

Lần thứ nhất: Vào khoảng tháng 11 năm 2017, Phạm Đăng L lấy trộm của ông Đoàn Ngọc T1 01 máy bơm nước và bán cho vựa phế liệu Vũ Thị Đ. Qua xác minh bà Vũ Thị Đ khẳng định Phạm Đăng L không bán tài sản gì cho vựa phế liệu. Hiện nay không thu hồi được tài sản, ông T1 đã được gia đình Phạm Đăng L bồi thường nên không thắc mắc gì. Do không thu hồi được tang vật nên không có cơ sở xử lý hành vi này của Phạm Đăng L.

Lần thứ hai, lần thứ ba: Vào khoảng tháng 11 năm 2017, Phạm Đăng L lấy trộm 01 máy bơm nước tại mương thủy lợi và lấy 01 xe đạp cũ, số tiền 250.000đ tại chùa (tịnh xá Ngọc N) cùng thôn Trung H, xã HA, huyện Đ. Qua xác minh tại Công an xã HA và tịnh xá Ngọc N không có ai trình báo bị mất tài sản nên không có cơ sở xử lý hành vi này của Phạm Đăng L.

Về vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, 01 con heo đất, 02 ví da. Tại thông báo định giá tài sản số 04/TB-HĐĐG ngày 11/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime giá trị 5.400.000đ. Đối với 01 con heo đất cũ, 02 ví da rách không có tài sản bên trong, bà T không yêu cầu định giá (Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả cho bà Nguyễn Thị Thanh T theo Biên bản giao nhận ngày 16/5/2018).

Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKS-ĐT ngày 28 tháng 6 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đ để xét xử bị cáo Phạm Đăng L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Phạm Đăng L từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Phạm Đăng L khai nhận: Do nghiện chơi game, vào lúc 19 giờ 00 ngày 09/01/2018, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản lấy tiền chơi game; khi đến nhà bà Nguyễn Thị Thanh T tại số 3/6, thôn Q, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo phát hiện cửa hông mở, không có ai ở nhà nên đã đột nhập vào nhà từ cửa bên hông nhà vào nhà kho, đi lên nhà bếp vào phòng ngủ, mở tủ quần áo lấy trong áo khoác da 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung J7 Prime. Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ xác định 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime giá trị 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm ngàn đồng). Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Phạm Đăng L phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của người khác nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime giá trị 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm ngàn đồng). Bị cáo biết rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, cấm mọi hành vi xâm phạm tài sản bất hợp pháp nhưng do muốn có tiền chơi game nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội của mình, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, thể hiện sự xem thường pháp luật.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi quyết định hình phạt.

Từ những phân tích nhận định trên, xét thấy cần có mức án nghiêm đối với hành vi bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, bị hại đã tự thương lượng, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, 01 con heo đất, 02 ví da đã trả cho bà Nguyễn Thị Thanh T nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trong vụ án này bị cáo có khai nhận vào khoảng tháng 11 năm 2017 lấy trộm của ông Đoàn Ngọc T1 01 máy bơm nước hiện nay không thu hồi được tài sản. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, ông T1 không xác định được nhãn, mác và giá trị tài sản bị chiếm đoạt, giữa ông T1 và gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong, ông T1 không thắc mắc nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vào khoảng tháng 11 năm 2017, bị cáo lấy trộm 01 máy bơm nước tại mương thủy lợi và lấy 01 xe đạp cũ, số tiền 250.000đ tại chùa (tịnh xá Ngọc N) cùng thuộc thôn Trung H, xã HA, huyện Đ. Qua xác minh tại Công an xã HA và tịnh xá Ngọc N không có ai trình báo bị mất tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp. Tại phiên tòa, qua Luận tội của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo có căn cứ, đúng pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng L phạm tội“Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Đăng L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2018.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Phạm Đăng L phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và bị hại ông Đoàn Ngọc T1 có quyền kháng cáo. Riêng bị hại bà Nguyễn Thị Thanh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ