vanban.org

Bản án 63/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Tuyên án 16/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn D 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 27-7-2018. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Văn D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM GIÀNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2018/HS-ST
Ngày: 16-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Hồng Hà.

Ông Dương Văn Ngạn.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Xoa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2018, tại Hội trường Nhà văn hóa khu 16 Thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2018/TLST- HS ngày 26 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2018/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Phạm Văn D, sinh năm 1985 tại xã CB, huyện BG, tỉnh HD; Nơi cư trú: thôn BD, xã CB, huyện BG, tỉnh HD; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 2/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn Đg, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị Dm, sinh năm 1949; Vợ Phạm Thị Q, sinh năm 1987; có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009.

Tiền sự: chưa.

Tiền án:

+ Tại bản án số 31/2014/HSST ngày 14-8-2014, Toà án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 2.300.000đồng). D chấp hành xong hình phạt tù ngày 18-3-2015 và các hình phạt khác của bản án.

1

+ Tại bản án số 22/2016/HSST ngày 27-7-2016, Toà án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 500.000đồng). D chấp hành xong hình phạt tù ngày 19-10-2016 và các hình phạt khác của bản án.

Nhân thân:

+ Ngày 01-8-2011, Ủy ban nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

+ Ngày 12-6-2014, Công an huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27-7-2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương; Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn D: Bà Nguyễn Thị Liên - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Bà Trần Thị T, sinh năm 1964.

Nơi cư trú: Chợ G, Thôn TK, xã TT, huyện CG, tỉnh HD. (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Bà Trần Thị B, sinh năm 1971.

+ Anh Trần Xuân A, sinh năm 1990.

+ Anh Đào Văn Q, sinh năm 1978.

Đều cư trú: Chợ G, Thôn TK, xã TT, huyện CG, tỉnh HD.

+ Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1981.

Nơi cư trú: Thôn PX, xã TT, huyện CG, tỉnh HD.

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26-7-2018, Phạm Văn D đi xe bus đến khu vực ngã tư Ghẽ, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương rồi đi bộ xung quanh để tìm tài sản sơ hở trộm cắp. Khi đến cửa hàng của bà Trần Thị B, sinh năm 1971 ở chợ Ghẽ, thôn TK, xã TT, huyện CG, tỉnh Hải Dương, quan sát thấy chiếc xe đạp mini màu xanh, nhãn hiệu City Ride của bà Trần Thị T, sinh năm 1964 đang dựng trước cửa hàng nhà bà Biên không có người quản lý, Duy lấy chiếc xe đạp rồi đi ngược chiều đường quốc lộ 5 về hướng Hải Phòng đến khu vực chân cầu vượt Quý Dương, xã Tân Trường thì bị người dân phát hiện,

2

bắt giữ và đưa đến trụ sở Công an xã Tân Trường để giải quyết theo thẩm quyền.

Kết luận định giá tài sản số 19/KL- HĐĐG- TTHS ngày 31-8-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Cẩm Giàng, kết luận: Chiếc xe đạp mini nhãn hiệu City Ride đã qua sử dụng có giá trị 600.000đồng.

Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản.

Tại Cáo trạng số 65/CT-VKSCG ngày 25-9-2018, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố Phạm Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra.

Đại diện VKSND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với bị cáo Phạm Văn D và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn D phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 (02 tình tiết) Điều 51; Điều 38 BLHS.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn D từ 07 đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 27-7-2018.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Người bào chữa cho bị cáo Duy phát biểu tại phiên tòa: Bị cáo có hành vi “Trộm cắp tài sản” như VKSND huyện Cẩm Giàng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo mới chỉ học hết lớp 2 nên thiếu hiểu biết và nhận thức pháp luật hạn chế. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tuy

3

giá trị tài sản bị cáo trộm cắp được không lớn, gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả thay cho bị cáo. Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo của địa phương, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, VKSND huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo Phạm Văn D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng, phù hợp với kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26-7-2018, tại chợ Ghẽ, thôn TK, xã TT, huyện CG, tỉnh Hải Dương, Phạm Văn D có hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút trộm cắp chiếc đạp mini màu xanh nhãn hiệu City Ride, trị giá 600.000đồng của bà Trần Thị T thì bị phát hiện.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi này không những làm ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự, an ninh tại địa phương mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do cần tiền để tiêu xài, không chịu lao động nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu vẫn cố ý lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, tổng giá trị tài sản bị cáo là 600.000đồng. Tuy giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới hai triệu đồng nhưng bị cáo có hai tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nay bị cáo lại phạm tội với lỗi cố ý nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS. Do đó,VKSND huyện

4

Cẩm Giàng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (được viết tắt TNHS): Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt 600.000đồng gây thiệt hại không lớn, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 300.000đồng cho bị hại để khắc phục hậu quả; ngoài ra bị cáo có bố đẻ là Phạm Văn Đg được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm b, h, s khoản 1; khoản 2 (02 tình tiết) Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Tuy nhiên xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng và chống loại tội phạm này.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, tuy nhiên bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 (02 tình tiết) Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn D 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 27-7-2018.

5

2. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Văn D.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ