- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Khanh - Kiều"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Trần Văn Kh được ly hôn với Lê Thúy K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN TỈNH CÀ MAU —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2018/HNGĐ-ST Ngày 02-8-2018 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thanh Liêm.
Ông Huỳnh Minh Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển.
Ngày 02 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2018/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn Kh, sinh năm 1978; cư trú tại khóm H, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Chị Lê Thúy K, sinh năm 1980; cư trú tại tại khóm H, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 4 năm 2018 của anh Trần Văn Kh và quá trình tố tụng tại Tòa án anh Kh trình bày: Anh và chị Lê Thúy K tự nguyện kết hôn vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm, lối sống không tự giải quyết được nên anh chị tự sống riêng từ tháng 8 năm 2017, nay anh vẫn giữ quan điểm cương quyết xin ly hôn với chị Lê Thúy K.
Về con chung có hai người tên Trần Gia H, sinh ngày 13/3/2002 và Trần Tường V, sinh ngày 20/10/2009 đang ở cùng anh Kh, sau khi ly hôn anh yêu cầu nuôi hai người con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản anh không yêu Tòa án giải quyết.
Tại đơn đề nghị vắng mặt ngày 14 tháng 6 năm 2018 của chị Lê Thúy K trình bày: Chị Lê Thúy K thống nhất ly hôn theo yêu cầu của anh Trần Văn Kh, về phần hai người con như anh Kh trình bày chị chấp nhận giao cho anh Kh nuôi, không cấp dưỡng, về phần tài sản chị không yêu cầu và đề nghị được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.
Đối với Trần Gia H và Trần Tường V có nguyện vọng ở cùng anh Kh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Vụ việc theo yêu cầu của anh Trần Văn Kh được Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Lê Thúy K có đơn đề nghị vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt chị K.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Trần Văn Kh và chị Lê Thúy K được xác lập vào năm 2001, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập nên hôn nhân được xác định là hợp pháp, nay xảy ra tranh chấp Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết. Quá trình anh Kh và chị K chung sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là có sự bất hòa nhau trong đời sống vợ chồng, thường không tin tưởng lẫn nhau và đã kéo dài nhiều năm không giải quyết được. Vào năm 2014, chị K làm đơn yêu cầu ly hôn, sau đó chị K rút đơn vợ chồng hàn gắn chung sống lại nhưng vẫn không hạnh phúc. Hiện tại, anh chị mỗi người sống một nơi, thời gian ngày càng kéo dài đôi bên vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu để xoa diệu mâu thuẫn nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Xét thấy, đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bản thân chị K vẫn đồng ý ly hôn nên chấp nhận yêu cầu của anh Kh được ly hôn với chị K là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Thời gian chung sống, anh Kh và chị K có hai người con đang ở cùng anh Kh, sau khi ly hôn chị K thống nhất giao hai người con cho anh Kh nuôi theo nguyện vọng của con, xét thấy các đương sự đã có sự thỏa thuận trong việc nuôi con và sự thỏa thuận của các đương sự không trái với quy định của pháp luật được chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Phần cấp dưỡng đương sự không yêu cầu nên không đặt ra.
Chị K có quyền thăm nôm, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên không giải quyết trong cùng vụ án.
Về án phí: Anh Trần Văn Kh là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên anh Kh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, được khấu trừ phần tạm ứng án phí anh Kh đã nộp.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử vắng mặt chị Lê Thúy K.
Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Trần Văn Kh được ly hôn với Lê Thúy K.
Về nuôi con chung: Anh Trần Văn Kh được nuôi hai người con đang ở cùng anh gồm Trần Gia H, sinh ngày 13/3/2002 và Trần Tường V, sinh ngày 20/10/2009, không đặt ra việc cấp dưỡng.
Chị K có quyền thăm nôm, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không đươc lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của anh Kh.
Về chia tài sản: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch anh Trần Văn Kh phải chịu 300.000 đồng, anh Kh đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0014180 ngày 18/4/2018 được khấu trừ.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Ngọc Hiển; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - UBND xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Hải |