- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn - nuôi con (Châu Thúy Hằng - Hà Văn Tài)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Châu Thúy H.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2018/HNGĐ-ST Ngày: 12/7/2018. V/v “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - xin ly hôn và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Hữu Chinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Phước Tâm
2. Bà Lương Thị Kim Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Trong ngày 12/7/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2018 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - xin ly hôn và nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158a/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số: 109/2018/QĐST-HNGĐ ngày 28/6/2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Châu Thúy H, sinh năm 1980;
Địa chỉ: ấp B M A, xã B T, huyện C L, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn:
Hà Văn T, sinh năm 1972;
Địa chỉ: ấp B M A, xã B T, huyện C L, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị H có mặt tại phiên tòa, anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn chị Châu Thúy H trình bày: Chị và anh T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001 và có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh P, nhưng sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, anh T không lo làm ăn mà thường xuyên cờ bạc, không chăm lo cho gia đình. Chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh T vẫn không thay đổi. Nay do tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Hà Trọng P, sinh ngày 22/01/2002 và Hà G, sinh ngày 03/02/2008 hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về T sản chung: Vợ chồng không có T sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ ai và cũng không cho ai nợ.
Đối với bị đơn là anh Hà Văn T đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có văn bản ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
* Các T liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
- Giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của chị H (photo);
- 02 giấy khai sinh tên Hà Trọng Pvà Hà G (photo);
- Giấy đăng ký kết hôn (bản chính);
- Đơn xin xác nhận ngày 18/6/2018 (bản chính).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các T liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn yêu cầu ly hôn của chị Châu Thúy H về việc yêu cầu được ly hôn với anh Hà Văn T nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - xin ly hôn và nuôi con”.
Về thẩm quyền: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn hiện nay đang cư trú tại xã B T, huyện C L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C L, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Xét thấy, bị đơn anh Hà Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H và anh T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001 và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh P, nhưng sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, anh T không lo làm ăn mà thường xuyên cờ bạc, không chăm lo cho gia đình. Chị H đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh T vẫn không thay đổi, hiện nay vợ chồng đã không còn sống chung và không còn quan tâm lẫn nhau. Nay do tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh T là phù hợp nên chấp nhận.
- Về con chung: Chị Châu Thúy H và anh Hà Văn T có 02 con chung tên Hà Trọng P, sinh ngày 22/01/2002 và Hà G, sinh ngày 03/02/2008 hiện đang sống chung với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, tại văn bản ý kiến của cháu Pvà cháu G thì khi cha mẹ ly hôn cháu Pvà cháu G có nguyện vọng được sống với chị H, nên việc chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là phù hợp nên chấp nhận; anh T không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị H không yêu cầu. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về T sản chung: Vợ chồng không có T sản chung, không yêu cầu Tòa án.
- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, thì chị H phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai số 04250 ngày 06/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C L, tỉnh Đồng Tháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Châu Thúy H.
- Về hôn nhân: Chị Châu Thúy H được ly hôn với anh Hà Văn T.
- Về con chung: Chị Châu Thúy H được tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hà Trọng P, sinh ngày 22/01/2002 và Hà G, sinh ngày 03/02/2008. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu. Anh Hà Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về T sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có T sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Chị Châu Thúy H phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai số 04250 ngày 06/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C L, tỉnh Đồng Tháp.
- Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS HCL; - CCTHADS HCL; - UBND xã B T; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên tòa (đã ký) Trịnh Hữu Chinh |