- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 63/2018/DS - ST. Ngày 13/9/2018 V/v tranh chấp: "Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm ". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Xuyến
2. Bà Ma Thị Thu Loan
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Kỳ Khôi - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2018/TLST- DS, ngày 26/4/2018, về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/QĐXXST-DS, ngày 27 tháng 7 năm 2018 và quyết định hoãn phiên toà số 17/2018/QĐST-DS ngày 14/8/2018, giữa:
- Nguyên đơn: anh Hoàng Trọng T, sinh năm 1983
- Bị đơn: anh Lê Văn L, sinh năm 1975;
- Người làm chứng: chị Trần Thị H - sinh năm 1975; chị Hoàng Thị Th - sinh
năm 1974.
Cùng trú tại: thôn M, xã V, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. (anh T, anh
L có mặt; chị H, chị Th vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 24/4/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án, lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Hoàng Trọng T trình bày:
Gia đình anh có 01 mảnh rừng tại thôn M, xã V giáp danh với rừng nhà anh Lê
Văn L. Khoảng 17 giờ ngày 11 tháng 4 năm 2017, khi anh đang chăn lợn thì thấy anh Th đang dùng cưa cắt một số cây bạch đàn thuộc khu rừng nhà anh. Thấy vậy anh có lên hỏi anh Th sao lại cắt cây nhà anh, anh Th có trả lời là anh mua rừng của nhà anh L, khi mua anh L đánh dấu cây nào thì anh cắt cây đó. Sau khi nghe anh Th nói vậy, anh đi xe máy đến nhà anh L để hỏi cho rõ sự việc. Đến nhà anh L, anh gặp ông L là bố anh L và chị H là vợ anh L ở nhà, giữa hai bên có tranh luận cãi chửi nhau về việc tranh chấp rừng cây. Sau đó anh đi về, khi qua cánh đồng thì nhìn thấy anh L đang đi trên bờ mương, tay cầm 01 chiếc cào bằng sắt. Anh dừng xe, ngồi trên xe máy và gọi hỏi anh L là: "sao ông bán cây nhà ông lại bán cả cây nhà tôi?", L chửi lại: "đ. mẹ nhà mày, cây nhà mày à, cây nhà tao chứ". Sau đó anh và anh L tiếp tục cãi chửi nhau một vài câu nữa. Anh thấy anh L vừa chửi vừa vác cào đi anh nghĩ là anh L đi về nhà, sau đó anh ngồi quay lưng lại thì một lúc sau anh thấy đau nhói một cái ở phía sau gáy, anh bị ngã xuống thì bị anh L dùng cào vụt tiếp 01 nhát vào tay. Sau đó anh đứng dậy bỏ chạy vào nhà anh L1 ở cạnh đó và được người nhà đưa đến Trạm y tế xã V và Bệnh viện Đa khoa K cấp cứu.
Sau khi ra viện, do vết thương đã đỡ nên anh không đề nghị giám định tổn hại
sức khỏe. Quá trình Công an huyện Sơn Dương giải quyết, anh đề nghị nếu anh L nhất trí hòa giải thì anh yêu cầu anh L bồi thường tổng số tiền là 3.347.899 (ba triệu ba trăm bốn mươi bẩy nghìn tám trăm chín chín đồng). Tuy nhiên anh L không đồng ý, vì vậy anh làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh L bồi thường tổng số tiền là 9.700.000đ (chín triệu bảy trăm nghìn đồng), gồm các khoản:
- Tiền thuê xe đi cấp cứu = 200.000đ;
- Tiền mất thu nhập do nằm viện: 7 ngày x 300.000đ/1ngày = 2.100.000đ;
- Tiền mất thu nhập của người chăm sóc: 7 ngày x 200.000đ/1ngày = 1.400.000đ;
- Tiền viện phí: 700.000 đồng;
- Tiền bồi dưỡng sức khỏe: 200.000đ/ ngày x 7 ngày = 1.400.000đ;
- Tiền tổn thất tinh thần: 3 tháng lương tối thiểu x 1.300.000đ = 3.900.000đ.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc
bị đơn phải bồi thường tổng số tiền là 9.700.000đ (chín triệu bảy trăm nghìn đồng).
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã nộp các tài liệu chứng cứ chứng
minh cho yêu cầu bồi thường là hóa đơn viện phí, giấy biên nhận tiền thuê xe.
Trong biên bản lấy lời khai và lời khai tại phiên tòa, bị đơn là anh Lê Văn
Luận trình bày:
Khoảng 18 giờ ngày 11/4/2017, khi anh đang làm đất trồng rau ở ruộng cách
nhà anh khoảng 200m thì thấy anh Hoàng Trọng T một mình đi xe máy đến đứng ở ven đường gọi anh là: “L ơi lên tao bảo”, anh hỏi lại: “mày gọi tao có việc gì?”, T chửi: “Đ. Mẹ mày sao mày bán rừng của tao”, anh đáp lại: “rừng của tao tao bán, tao đâu bán rừng của mày”. Sau đó anh và T chửi nhau một vài câu nữa thì anh vác cào lên đi về, khi đi qua trước mặt T thì T vừa chửi vừa lao vào dơ tay phải lên tát anh, anh lùi lại và dùng cào vụt lại 1 nhát, Tạo dơ tay lên đỡ đồng thời lùi lại làm đổ xe máy của T. Sau đó T bỏ chạy còn anh đi về nhà. Nay anh T khởi kiện yêu cầu anh bồi thường anh chỉ nhất trí bồi thường ½ số tiền viện phí = 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng), các khoản còn lại anh không nhất trí. Lý do là vì anh T đã chửi bới xúc phạm anh và gia đình anh trước.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn không xuất trình tài liệu
chứng cứ gì, không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm ai tham gia vào việc giải quyết vụ án.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành triệu tập hòa giải nhiều
lần nhưng bị đơn đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát phát
biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật: Toà án đã thụ lý, giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
về việc “Kiện tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” là đúng thẩm quyền, đúng nội dung tranh chấp. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo.
- Về quan điểm giải quyết nội dung tranh chấp, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị
HĐXX áp dụng các điều 584, 585, 588, 590, 357, 468 Bộ luật dân sự; áp dụng các điều 26, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án, xử: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Trọng T. Buộc anh Lê Văn L phải bồi thường cho anh Hoàng Trọng T các khoản chi phí hợp lý bao gồm: tiền thuê xe đi cấp cứu = 200.000đ; tiền mất thu nhập do nằm viện 7 ngày x 150.000đ/1ngày = 1.050.000đồng; tiền mất thu nhập của người chăm sóc 7 ngày x 150.000đ/1ngày = 1.050.000 đồng; tiền viện phí theo hóa đơn = 647.899đồng; tiền tổn thất tinh thần: 2 tháng lương cơ sở x 1.390.000đ = 2.780.000đ; tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe 1.400.000đ. Tổng cộng là: 7.127.899đ (bảy triệu một trăm hai mươi bẩy nghìn tám trăm chín chín đồng). Nguyên đơn có 1 phần lỗi xác định bằng ¼ lỗi nên bị đơn phải bồi thường ¾ tổng số tiền bồi thường là 5.345.900đ (năm triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn chín trăm đồng).
Ngoài ra, đại diện Viện Kiểm sát còn đề nghị HĐXX tuyên nghĩa vụ chịu án
phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà, nghe lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát, HĐXX nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngày
11/4/2017, anh Hoàng Trọng T bị anh Lê Văn L dùng 01 cào sắt đánh vào đầu dẫn đến anh T phải đi cấp cứu điều trị, như vậy anh Luận đã xâm phạm đến sức khỏe của anh T. Ngày 24/4/2018 anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh L phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là: Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm) theo quy định tại khoản 6, Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: bị đơn là anh Lê Văn L hiện đang cư trú tại xã V, huyện Sơn Dương. Vì vậy, thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương theo quy định tại các điều 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện của anh T, đề nghị Tòa án buộc anh L bồi thường tổng
số tiền là 9.700.000đ bao gồm các khoản như đã trình bày tại phần nội dung vụ án, HĐXX nhận định: nguyên nhân xảy ra sự việc xô sát đánh nhau ngày 11/4/2017 là do tranh chấp về diện tích đất và cây rừng giữa hai bên. Trong khi tranh chấp chưa được làm rõ thì anh L tự ý bán số cây trồng đang tranh chấp. Anh T cho rằng cây trồng là của gia đình mình nên đã có lời lẽ xúc phạm anh L. Vì vậy hai bên dẫn đến cãi chửi, xúc phạm nhau. Sau đó anh L dùng cào sắt đánh 01 nhát trúng vào vùng đỉnh chẩm trái của anh T dẫn đến anh T phải đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai trong quá trình điều tra của Công an huyện Sơn Dương, anh L đều thừa nhận hành vi xâm hại sức khỏe đối với anh T, đây là tình tiết rõ ràng không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2, điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, cần xem xét chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh T, buộc anh L bồi thường cho anh T các khoản thiệt hại theo quy định tại điều 590 Bộ luật dân sự, bao gồm:
- Tiền thuê xe đi cấp cứu và khi ra viện từ xã V đến Bệnh viện K và ngược lại
= 2 chuyến x 100.000đ/ 1 chuyến = 200.000 đ;
- Tiền mất thu nhập do nằm viện (nguyên đơn là lao động tự do): thời gian
nằm viện là 7 ngày (từ ngày 11 đến ngày 17/4/2017) x 150.000đ/1ngày (thu nhập trung bình của lao động cùng loại) = 1.050.000đồng;
- Tiền mất thu nhập của người chăm sóc nguyên đơn (người chăm sóc nguyên
đơn là Hoàng Văn H nghề nghiệp lao động tự do): thời gian chăm sóc là 7 ngày x 150.000đ/1ngày (thu nhập trung bình của lao động cùng loại) = 1.050.000 đồng;
- Tiền viện phí (theo hóa đơn số 0002314 ngày 17/4/2017 là: 647.899đồng;
- Tiền tổn thất tinh thần: 2 lần mức lương cơ sở (thời điểm xét xử) x
1.390.000đ = 2.780.000đ.
- Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe (theo chỉ dẫn của bác sĩ trong giấy ra viện
ngày 17/4/2018): 1.400.000đ.
Tổng cộng là: 7.127.899đ (bảy triệu một trăm hai mươi bảy nghìn tám trăm
chín chín đồng).
Các khoản bồi thường nêu trên, HĐXX căn cứ vào các hóa đơn chứng từ,
kết quả xác minh thu nhập thực tế, mức độ tổn thất tinh thần và điều kiện xã hội để xem xét. Do vậy những yêu cầu đề nghị cao hơn của nguyên đơn tại các khoản tiền mất thu nhập, tiền viện phí, tổn thất tinh thần... không có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
Về xác định mức độ lỗi: trong vụ án này lỗi thuộc về anh L là chính. Tuy
nhiên, anh T cũng có một phần lỗi, lẽ ra khi phát hiện anh L chặt phá cây của gia đình thì thay bằng việc chửi bới xúc phạm anh L, anh T cần báo chính quyền địa phương để giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật. Vì vậy HĐXX xác định anh T phải chịu trách nhiệm ¼ lỗi. Như vậy, anh L chỉ phải chịu trách nhiệm đối với ¾ lỗi, tương đương số tiền bồi thường là: 5.345.900đồng (7.127.899đ : 4 x ¾ lỗi).
Đối với ý kiến của bị đơn Lê Văn L: anh L thừa nhận việc đánh anh T là sai
nhưng chỉ nhất trí bồi thường ½ số tiền viện phí mà anh T yêu cầu = 350.000đ vì lý do anh T chửi bới xúc phạm và lao vào đánh anh trước nên anh tự vệ, HĐXX nhận định: Hành vi xâm phạm sức khỏe của anh L đối với anh T dẫn đến việc anh T phải nằm viện điều trị, ngoài khoản viện phí, anh T còn bị thiệt hại các khoản khác trên thực tế do phải nằm viện. Đối với việc anh L cho rằng do anh T lao vào tát anh trước, HĐXX xét thấy khi hai bên xô sát, người làm chứng duy nhất là chị Hoàng Thị Th khai chỉ nhìn thấy hai bên cãi nhau, việc có đánh nhau hay không chị Th không biết, bản thân anh T không thừa nhận hành vi, anh L không có thương tích gì và không có tài liệu căn cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình. Do đó ý kiến của anh L không có cơ sở xem xét.
Về khoản tiền lãi do chậm bồi thường: Do khoản tiền lãi là khoản tiền phát
sinh từ khoản tiền phải bồi thường chưa thực hiện, vì vậy cần áp dụng các quy định của BLDS 2015 buộc bị đơn phải chịu khoản tiền lãi nếu chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị
đơn phải chịu án phí đối với số tiền phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại
các điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- Khoản 6, điều 26; điều 35; điều 147; khoản 1, điều 235; điều 266; điều 271;
điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các điều 584, 585, 588, 590, 357, 468 Bộ luật dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Trọng T về việc Kiện
Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
Buộc anh Lê Văn L phải bồi thường cho anh Hoàng Trọng T tổng số tiền là
5.345.900đồng (Năm triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn chín trăm đồng). Khoản tiền phải bồi thường được thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Khoản tiền phải bồi thường, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người
được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bên phải thi hành án chậm trả thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí: Buộc anh Lê Văn L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
án phí dân sự sơ thẩm. Anh Hoàng Trọng T không phải chịu án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/9/2018).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận : - TAND Tỉnh; - VKSND huyện Sơn Dương; - Chi cục THADS huyện Sơn Dương; - UBND xã V; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Ngọc Xuyến Ma Thị Thu Loan | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Toàn THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Toàn |