- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe giữa nguyên đơn ông Trương Minh S với bị đơn ông Dương Minh H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Minh H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2018/DS-PT Ngày: 29-10-2018 V/v Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Đình Bảy
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Quốc Thiện
Bà Cao Thị Huyền
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Minh Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2018/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2018 về việc: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 59/2018/QĐPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Minh S, sinh năm: 1977;
- Bị đơn: Ông Dương Minh H, sinh năm: 1967;
- Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1976;
2. Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1967;
3. Ông Phạm Tấn T, sinh năm 1974;
Cùng trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Dương Minh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trương Minh S trình bày:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 21/01/2017 do mâu thuẫn trong việc xây tường rào, giữa ông và vợ ông H là bà L có xảy ra mâu thuẫn, ông đã dùng cái búa bửa củi đập phá trụ bê tông của nhà ông H. Sau đó, giữa ông, bà L và bà X có xảy ra xô xát. Ông H nghe vậy từ trong nhà chạy ra, tay cầm cái xẻng xúc cát đánh ông làm ông gãy tay phải. Ông phải đi bệnh viện Quảng Nam điều trị hết 6 ngày để nẹp xương, sau gần 1,5 năm ông xuống tháo vít ra. Tổng chi phí điều trị như sau:
Lần 1: Vào viện ngày 21/01/2017 đến ngày 27/01/2017: Thời gian nằm viện là 06 ngày, trong đó:
- Tiền thuốc: 1.702.650đ
- Tiền xe đưa đi cấp cứu: 130.000đ
- Tiền giám định: 1.265.000đ
- Tiền công lao động của người bệnh trong 06 ngày: 200.000đ x 6 = 1.200.000đ
- Tiền công lao động của người nuôi bệnh trong 06 ngày: 200.000đ x 6 = 1.200.000đ
- Tiền tái khám nhiễm trùng: 655.930đ
- Tiền công không lao động được trong 04 tháng: 5.000.000đ x 04 = 20.000.000đ
Tổng các khoản chi là: 26.153.580đ
Lần 2: Mổ tháo vít, vào viện ngày 08/6/2018 đến ngày 18/6/2018, với chi phí như sau:
- Tiền thuốc: 1.407.510đ
- Tiền thuốc mua ngoài ngày ra viện: 100.000đ
- Tiền công lao động của người bệnh trong 10 ngày: 10 x 200.000đ = 2.000.000đ
- Tiền công người nuôi trong 03 ngày: 03 x 200.000đ = 600.000đ
- Tiền công 01 tháng không lao động được sau mổ: 5.000.000đ
Tổng chi phí là: 9.107.510đ
Ông S khởi kiện yêu cầu ông H phải bồi thường số tiền là 35.261.090đ.
Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án, bị đơn ông Dương Minh H trình bày:
Ông thừa nhận sự việc diễn ra như ông S trình bày, tuy nhiên ông cho rằng, lúc ông ra can nhưng vì ông S cầm búa đập phá tường rào và đánh vợ ông nên sẵn có cái xẻng bên bờ rào ông mới cầm ra theo và quơ trúng vào người ông S. Ông thấy trong việc này người có lỗi trước là ông S, ông S đập phá bờ rào xây của ông, đánh cả vợ chồng ông, nên thiệt hại đối với ông S thì ông S tự chịu.
Với nội dung vụ án như trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam đã áp dụng các điều 26, 35, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Minh S, buộc ông Dương Minh H phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Trương Minh S với số tiền là 21.084.000đ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 11/9/2018, bị đơn ông Dương Minh H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam cho rằng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, bác đơn kháng cáo của ông Dương Minh H và giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xuất phát từ việc tranh chấp ranh giới đất giữa hai bên gia đình ông Trương Minh S và ông Dương Minh H, ngày 21/01/2017 sau khi cãi nhau với bà L về việc tranh chấp đất ông S đi vào cổng nhà mình lấy cái cúp (một đầu dùng để bửa củi, một đầu dùng để đào đất) mang ra đập vào hàng rào của gia đình ông H và bà L, thấy vậy bà L xông vào ôm ông S để ngăn cản, ông S hất bà L ngã ngửa ra đất, bà L đứng dậy dùng chổi cau đánh vào người ông S. Thấy chồng bị đánh, bà X xông vào đánh nhau với bà L, lúc này bà L bị vợ chồng ông S đè xuống mương nước để đánh. Thấy vợ mình bị vợ chồng ông S đánh, lúc này ông H từ trong nhà chạy ra, nhặt cái xẻng đánh ngang một cái trúng vào tay phải của ông S, làm ông S gãy tay và đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa Quảng Nam hết 6 ngày để nẹp xương, gây thương tích làm tổn hại 10% sức khỏe của ông S. Hành vi của ông Dương Minh H tuy chưa phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng là hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe của ông Trương Minh S. Do đó, ông Trương Minh S khởi kiện yêu cầu ông Dương Minh H phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của ông Dương Minh H về việc yêu cầu xem xét lại mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe mà Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông phải bồi thường cho ông Trương Minh S thì thấy:
Thời gian ông S nhập viện và điều trị lần 1 từ ngày 21/01/2017 đến ngày 27/01/2017 là 06 ngày, lần 2 từ ngày 08/6/2018 đến ngày 18/6/2018 là 10 ngày: Các khoản chi phí cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe bao gồm: Tiền xe đưa đi cấp cứu là 130.000đ, tiền thuốc theo hóa đơn ngày 27/01/2017 là 585.000đ, tiền thuốc ngày 03/02/2017 là 1.702.650đ, chi phí giám định thương tích và bồi dưỡng giám định thương tích là 1.215.000đ. Tiền thuốc đợt 2 (hóa đơn ngày 18/6/2018) là 1.407.510đ, tiền thuốc mua ngoài (theo đơn của bác sĩ) là 100.000đ. Tổng cộng là: 5.140.160đ, đây là các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe cho ông S có hóa đơn chứng từ kèm theo nên được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
Theo ông S trình bày thì ông làm nghề khai thác keo, có mức thu nhập bình quân là 200.000đ/ ngày. Cho nên thu nhập thực tế bị mất của ông S trong thời gian nằm viện 02 đợt là 16 ngày: 16 x 200.000đ = 3.200.000đ và thu nhập bị mất của người chăm sóc ông S trong 09 ngày là: 09 x 200.000đ = 1.800.000đ là các khoản thiệt hại mà Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
Đối với khoản tiền công mà ông S không lao động được trong 05 tháng sau 02 đợt điều trị, mỗi tháng là 5.000.000đ mà Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp với mức độ thương tích của ông S. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Việc ông H gây thương tích cho ông S có một phần lỗi từ ông S, do đó Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông S phải chịu 40% thiệt hại, ông H phải bồi thường cho ông S 60% thiệt hại từ hành vi của mình là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H không xuất trình được chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu của mình nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Dương Minh H phải chịu là 1.054.200đ (Một triệu không trăm năm mươi tư nghìn hai trăm đồng).
Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Dương Minh H phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Minh H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam.
Áp dụng các điều 26, 35, 147, 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Minh S.
Buộc ông Dương Minh H phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Trương Minh S với số tiền là 21.084.000đ. (Hai mươi mốt triệu không trăm tám mươi tư nghìn đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Dương Minh H phải chịu là 1.054.200đ (Một triệu không trăm năm mươi tư nghìn hai trăm đồng).
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dương Minh H phải chịu 300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà ông đã nộp theo biên lai thu số 0003398 ngày 11/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Nam; - TAND huyện P; - CC THADS huyện P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Đình Bảy |