- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2017/HSST Ngày 16/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giới
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Quốc Tuấn
2. Bà Tô Thị Bích Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh: Ông Trần Đức Duyện - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 16 tháng 11 năm 2017, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2017/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2017/HSST ngày 01/11/2017, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị T - Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 10/3/1979, tại thị xã Đ, tỉnh Q.
Nơi ĐKHKTT: Khu Dân Chủ, phường M, thị xã Đ, tỉnh Q.
Chỗ ở hiện nay: Tổ 2, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Q.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hoá: 6/12 - Nghề nghiệp: không.
Họ và tên bố: Nguyễn Đình V - Sinh năm: 1955.
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị D – Sinh năm: 1954.
Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ nhất.
Chồng: Nguyễn Xuân T – Sinh năm: 1971 (đã ly hôn năm 2007).
Con: Có 03 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 06/7/2017, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 55 phút ngày 06/7/2017, tại tổ 2, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Q, Công an phường M, thị xã Đ qua công tác kiểm tra phòng trọ phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị T có hành vi tàng trữ trái phép trong túi bột giặt hiệu OMO 02 (hai) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy dạng đá, được giấu trong nhà vệ sinh. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5; 01 (một) điện thoại di động Nokia 206 và 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tại bản Kết luận giám định số 452/GĐMT ngày 11/7/2017, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 02 (hai) túi nilon gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, tổng trọng lượng 1,31g (một phẩy ba mốt gam).
(Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT: 67 Nghị định 82/NĐ – CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.)
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị T đã khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 05/7/2017, khi T đang ở trong phòng trọ của mình ở tổ 2, khu V, phường M, thị xã Đ, thì có anh Nguyễn Thế V, sinh năm 1969 tên gọi khác là “Dân Hùng”, nhà ở khu D, phường M, thị xã Đ, đến chơi và ngồi ở chiếu trải dưới nền nhà, sau đó V nói với T “Tao vừa kiếm được một ít dùng để xăm người cho đỡ đau”, rồi cầm 02 (hai) túi nilon ma túy để xuống chiếu. T biết là ma túy nên đã cầm để xuống dưới chiếu. Khi V về, T lấy 02 (hai) túi nilon ma túy cho vào túi bột giặt rồi cất giấu vào nhà vệ sinh, mục đích để sử dụng thì đến ngày 06/7/2017 thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Ngoài ra T còn khai nhận, trước đó V đã mang ma túy đến nhà T và cùng T sử dụng từ hai đến ba lần.
Bản cáo trạng số 63/KSĐT - HS ngày 16/10/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh truy tố Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 - điều 194 – Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cất giấu ma túy để sử dụng, thì bị bắt quả tang, kết quả giám định là Methamphetamine có trọng lượng 1,31g (một phẩy ba mốt gam). Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 - Điều 194; Điểm p - khoản 1 - Điều 46 - Bộ luật hình sự 1999; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T từ 24 đến 30 tháng tù. Áp dụng điểm c - khoản 1 - điều 41 – Bộ luật hình sự, điểm a - khoản 2 - Điều 76 – Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 1,12g (một phẩy mười hai gam) Methamphetamine hoàn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 452/GĐMT; Trả lại bị cáo 02(hai) chiếc điện thoại và 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T có lời khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với quá trình điều tra. Lời khai của bị cáo thể hiện:
Khoảng 8 giờ 55 phút ngày 06/7/2017, tại tổ 2, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Q, Nguyễn Thị T đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 (hai) túi nilon là chất ma túy loại Methamphetamine, có trọng lượng 1,31g (một phẩy ba mốt gam), mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Người làm chứng là anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T có lời khai phù hợp lời khai của bị cáo về việc bắt quả tang bị cáo cùng tang vật và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra.
Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai người làm chứng, phù hợp kết quả điều tra; Phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận bản luận tội của Kiểm sát viên là đúng, không tranh luận gì. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1- Điều 194 - Bộ luật hình sự.
Điều 194 - Bộ luật hình sự quy định:
..."1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép ho c chiếm đoạt chất ma túy, th bị phạt tù từ hai năm đến b y năm.” ...
Về khách thể: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền nhà nước về quản lý các chất gây nghiện là khách thể quan trọng luôn được pháp luật đề cao và bảo vệ.
Về chủ thể, bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm pháp luật.
Về mặt chủ quan, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Về mặt khách quan, bị cáo đã cất giấu trái phép 1,31g (một phẩy ba mốt gam) chất ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.
Như chúng ta đã biết, ma túy là nguyên nhân làm lây lan đại dịch HIV/AIDS, và là nguyên nhân phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm, trong khi Nhà nước và cộng đồng đang nỗ lực tìm mọi biện pháp ngăn chặn, nhằm đẩy lùi tệ nạn ma túy thì hành vi phạm tội của bị cáo đã tiếp tay cho tội phạm về ma túy, gây mất trật tự xã hội. Nên cần xử phạt nghiêm, phải cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đề cao công tác phòng chống tội phạm.
Xét nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, quá trình khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p - khoản 1 - Điều 46 - Bộ luật hình sự. Mặt khác, theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, của Quốc hội quy định về việc thi hành Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13 và khoản 3 – Điều 7 – Bộ luật hình sự 2015 quy định các tình tiết có lợi cho người phạm tội phải được áp dụng trước khi Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiệu lực thi hành; Đồng thời điều 249 – Bộ luật hình sự 2015 quy định:
“1. người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, s n xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây th bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
....
c) Hêrôin, Coocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam.”
Nên giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật mà cải tạo cho tốt.
Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Về vật chứng của vụ án: 1,12g (một phẩy mười hai gam) chất ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định, tịch thu tiêu hủy.
Cơ quan điều tra hiện tạm giữ của bị cáo: 01 (một) điện thoại Iphone 5; 01 (một) điện thoại Nokia 206 và 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, theo lời khai của bị cáo còn có đối tượng Nguyễn Thế V là người đã mang 02 (hai) túi nilon ma túy đến nơi ở của T, sau đó T cất giấu vào túi xà phòng hiệu OMO. Quá trình điều tra xác định Văn hiện không có mặt tại địa phương, vì vậy chưa đủ cơ sở để xử lý đối với V về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Đông Triều tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Khoản 1 - Điều 194; Điểm p - khoản 1 - Điều 46 – Bộ luật Hình sự 1999; Khoản 3 – Điều 7; Khoản 1 - Điều 249 - Bộ luật hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 06/7/2017.
Áp dụng: - Điểm c - khoản 1 - Điều 41 – Bộ luật hình sự;
- Điểm a - khoản 2 - Điều 76 – Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 1,12g (một phẩy mười hai gam) chất Methamphetamine hoàn lại sau giám định, trong 01 (một) phong bì số 452/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh.
Trả lại Nguyễn Thị T 01 (một) điện thoại Iphone 5 màu trắng; 01 (một) điện thoại Nokia 206 và 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(T nh trạng vật chứng theo Biên b n giao nhận vật chứng số 05 ngày 16/10/2017 giữa Cơ quan c nh sát điều tra - Công an thị xã Đông Triều và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều)
Về án phí: - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH13 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Qu ng Ninh; - VKSND thị xã Đông Triều; - Công an thị xã Đông Triều; - Chi cục THADS thị xã Đông Triều; - Bị cáo; - STP tỉnh Qu ng Ninh; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Văn Giới |