vanban.org

Bản án 629/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều

57 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Vũ Ngô Đăng Kh 10 (mười) năm tù về tội “Giết người”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ngô Đăng Kh; - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 629/2023/HS-ST
Ngày: 27-12- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Hòa

2. Bà Lê Thị Xuân Lang

- Thư ký Tòa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số

879/2023/HSST ngày 31/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

5540/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Ngô Đăng Kh; Sinh ngày: 21/11/1994; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ

khẩu thường trú: 313A, Tổ 78, Khu phố 3, phường Trung Mỹ T, Quận X, Thành

phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: không nơi ở nhất định; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh;

Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp:

Nhân viên giao hàng; Con ông: Vũ Văn Khôi và bà: Ngô Thị Hiệp; Vợ con: chưa

có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 05/8/2020, bị Công an Quận X xử

phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác; Bị bắt tạm giữ, tạm

giam từ ngày 18/9/2022 – Có mặt.

- Bị hại:

Lê Văn Tr, sinh năm: 1998; Nơi cư trú: 19/4A TCH25, phường Tân Chánh

H, 18, Quận X, thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt

- Người bào chữa:

Bà Trần Thị Huy C là Luật sư Công ty TNHH MTV Chánh Thiện thuộc

Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Vũ Ngô Đăng Kh – Có

mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vũ Ngô Đăng Kh, Hà Minh H và Nguyễn Thành D là bạn chung với nhau.

Khoảng 05 giờ ngày 16/01/2022, sau khi uống bia cùng với anh H, anh D tại phòng trọ số 14, địa chỉ số 19/4A, đường TCH25, phường Tân Chánh H, Quận X (phòng trọ của H và D thuê), Kh rủ anh H và anh D đi uống bia tiếp, anh H và anh D đồng ý. Kh đi ra phía trước cửa phòng trọ ngồi lên xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59V1-921.17 (của Kh) nổ máy xe chờ anh H và anh D. Do chờ lâu nên Kh liên tục bấm còi xe mô tô. Lúc này, bà Huỳnh M nằm ngủ trong phòng trọ kế bên (phòng trọ không số) thức dậy đi ra ngoài nói với Kh “Bóp còi thế ai mà ngủ được”, thì Kh trả lời “Ngủ cái gì mà ngủ". Ông Lê Văn Sinh (chồng bà Mũi) từ trong phòng trọ đi ra và khuyên bà Mũi vào trong phòng. Lúc này, anh Lê Văn Tr (con bà Mũi) từ trong phòng trọ đi ra cự cãi và xông vào dùng tay đánh Kh, dẫn tới cả hai đánh nhau bằng tay, xô đẩy nhau vào phòng trọ số 14, được mọi người xung quanh can ngăn. Anh Tr chạy về phòng trọ lấy 01 khúc gỗ dài khoảng 20cm, đường kính khoảng 04cm thường dùng để đập nước đá (không thu giữ được) chạy ra ngoài để đánh nhau với Kh. Kh cũng chạy vào phòng trọ lấy 01 dao tự chế dạng kiếm Nhật bằng kim loại (dài 99cm, lưỡi kiếm bằng kim loại hình cong dài 74cm màu đen trắng) chạy ra ngoài đuổi đánh Anh Tr. Anh Tr bị Kh cầm kiếm Nhật trên tay phải đưa lên chém 01 nhát hướng từ trên xuống trúng vào vùng đầu bên trái làm Anh Tr gục xuống, ông Sinh chạy tới can ngăn và giật lấy cây kiếm trên tay Kh. Sau đó ông Sinh và chị Nguyễn Thị Yến Nhi bạn gái của Anh Tr đưa Anh Tr đến Bệnh viện 175 cấp cứu. Còn Kh sau khi gây án bỏ trốn khỏi địa phương.

Ngày 18/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X ra Quyết định

khởi tố vụ án hình sự, đến ngày 08/6/2022, ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Vũ Ngô Đăng Kh về tội “Cố ý gây thương tích". Do Kh bỏ trốn nên ngày 17/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X ra Quyết định truy nã đến ngày 18/9/2022, thì bắt được Vũ Ngô Đăng Kh.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Vũ Ngô Đăng Kh khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội như trên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 162/TgT.22 ngày

14/3/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đối với Lê Văn Tr:

- Vết thương vùng trán đỉnh trái gây đứt da, vỡ sọ, tụ máu dưới màng cứng,

tụ khí nội sọ bán cầu trải và xuất huyết dưới nhện vùng thái dương trái đã được điều trị phẫu thuật mở rộng vết thương, khoan mở rộng sọ, mở màng cứng lấy hết máu tụ và não dập, đặt dẫn lưu và catheter tĩnh mạch cảnh trong và động mạch quay bên phải, hiện còn:

+ Một sẹo chém và mổ kích thước 16x(0,1-0,2)cm có một phần kéo dài ra

vùng trán ngoài tóc.

+ Một sẹo dẫn lưu kích thước 1x0,5cm.

+ Hai sẹo đặt catheter vùng cổ phải kích thước 0,3x0,3cm và vùng mặt trước

cổ tay phải kích thước 0,3x0,3cm,

+ Hình ảnh khuyết sọ kích thước 1 1,55x6,5cm và tổn thương não cũ vùng

thái dương trái trên phim chụp cắt lớp vi tính.

+ Yếu nhẹ tay chân phải, sức cơ 4/5.

- Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 60% (Sáu mươi

phần trăm).

- Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra, có nguy hiểm đến

tính mạng đương sự.

- Không đủ cơ sở xác định chiều hướng và lực tác động. (BL: 193-196)

Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) cây kiếm bằng kim loại dài 99cm, lưỡi kiếm bằng kim loại hình

cong dài 74cm màu đen - trắng;

- 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59V1-921.17;

- 01 (một) USB có chứa đoạn video ghi nhận diễn biến vụ án.

Về dân sự: anh Lê Văn Tr và gia đình yêu cầu Vũ Ngô Đăng Kh bồi thường

viện phí điều trị thương tích và tổn thất tinh thần là 474.000.000 đồng (BL: 333-

334). Bị can Kh chưa bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 457/CT-VKS-P2 ngày 24/8/2023, của Viện kiểm sát

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Vũ Ngô Đăng Kh về tội “Giết

người” theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm

2017).

* Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu lời luận tội, giữ nguyên quan điểm như nội

dung bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích đánh giá tính chất mức độ hành vi

phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội

đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 57

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Vũ Ngô

Đăng Kh từ 08 đến 09 năm tù về tội “Giết người”. Về trách nhiệm dân sự và xử lý

vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Vũ Ngô Đăng Kh đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung

vụ án được tóm tắt nêu trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện

kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa như sau: Thống

nhất với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Vũ

Ngô Đăng Kh. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm nguyên nhân dẫn đến hành

vi phạm tội là do bị cáo đã uống rượu bia nên không còn tỉnh táo. Bị cáo phạm tội

do bột phát nhất thời, bị hại cũng có một phần lỗi, phạm tội chưa đạt. Bị cáo có

hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 03 con đang còn nhỏ, có nhân thân tốt đã hoàn

thành nghĩa vụ quân sự, phạm tội lần đầu, có thái độ khai báo thành khẩn, ăn

năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1

khoản 2 Điều 51; Điều 57 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt

khoan hồng nhất, tạo điều kiện cho bị cáo được sớm trở về chăm lo cho gia

đình.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tranh luận: Về tội danh, khung hình

phạt và tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 57 Bộ luật hình sự mà Luật sư nêu ra, đại diện Viện kiểm sát cũng đã đề cập, nên không có ý kiến gì khác. Riêng đối với đề nghị của Luật sư về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là không có căn cứ để chấp nhận, bởi vì bị cáo khai có 03 con đang còn nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình và đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nhưng ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ gì khác để chứng minh.

Sau khi tranh luận đối đáp các bên vẫn giữ nguyên quan điểm như đã

trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát

viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo Vũ Ngô Đăng Kh tại phiên tòa, phù hợp với

lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 05 giờ ngày 16/01/2022, sau khi uống bia cùng với các anh Hà

Minh H và Nguyễn Thành D tại phòng trọ số 14, nhà số 19/4A, đường TCH25, phường Tân Chánh H, Quận X. Kh rủ anh H và anh D đi uống bia tiếp, anh H và anh D đồng ý. Kh đi ra phía trước cửa phòng trọ ngồi lên xe mô tô của Kh nổ máy xe chờ anh H và anh D. Do chờ lâu nên Kh liên tục bấm còi xe mô tô gây ồn ào, bà Huỳnh M ở phòng trọ kế bên đi ra cự cãi với Kh. Anh Lê Văn Tr là con bà Mũi từ trong phòng trọ đi ra cự cãi và xông vào dùng tay đánh Kh, dẫn tới cả hai đánh nhau bằng tay không thì được mọi người xung quanh can ngăn. Anh Tr chạy về phòng trọ lấy 01 khúc gỗ dài khoảng 20cm, đường kính khoảng 04cm chạy ra ngoài để đánh nhau với Kh. Kh cũng chạy vào phòng trọ số 14 lấy 01 dao tự chế dạng kiếm Nhật bằng kim loại dài 99cm, chạy ra đánh nhau với Anh Tr. Kh cầm kiếm Nhật trên tay phải chém 01 nhát từ trên xuống trúng vào vùng đầu bên trái gây ra thương tích cho anh Lê Văn Tr.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 162/TgT.22 ngày

14/3/2022 đối với Lê Văn Tr: Vết thương vùng trán đỉnh trái gây đứt da, vỡ sọ, tụ máu dưới màng cứng, tụ khí nội sọ bán cầu trải và xuất huyết dưới nhện vùng thái dương trái. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 60% (Sáu mươi phần trăm).

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ việc trong lúc cự cãi với

bị cáo thì bị hại xông vào dùng tay không đánh bị cáo trước, dẫn đến hai người đánh nhau bằng tay không, sau đó bị hại và bị cáo đều chủ động về phòng trọ

lấy hung khí quay lại tiếp tục đánh nhau. Bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm

chém vào vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại, đã gây ra thương tích

có tỷ lệ 60%, vết thương nguy hiểm đến tính mạng của bị hại, bị hại không chết

là do được ngăn chặn cấp cứu kịp thời. Qua đó đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ

Ngô Đăng Kh phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật

hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo Vũ Ngô Đăng Kh thống nhất với

bản cáo trạng về tội danh, khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Ngô Đăng Kh là rất nghiêm trọng, nguy

hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng của công dân,

gây mất trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức được tính mạng của con

người được pháp luật bảo vệ, nhưng do ý thức coi thường pháp luật bị cáo vẫn cố ý

phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không có thiện chí bồi thường

thiệt hại khắc phục hậu quả của tội phạm mà còn bỏ trốn, gây khó khăn cho công

tác điều tra giải quyết vụ án, nên cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với

tính chất mức độ hành vi phạm tội, mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo

và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và quan điểm của Luật sư bào chữa

cho bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về các tình tiết giảm nhẹ như

Luật sư và Đại diện Viện kiểm sát trình bày, cơ bản là phù hợp với nhau và có căn

cứ nên chấp nhận, áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Vũ Ngô Đăng Kh theo quy

định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với đề nghị áp dụng tình tiết

giảm nhẹ cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử nhận

thấy ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác xác định bị cáo

đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, là lao động chính trong gia đình, nên không chấp

nhận.

Xét thấy bị cáo Vũ Ngô Đăng Kh đã thực hiện hết các hành vi cho là cần

thiết đối với bị hại nhưng hậu quả chết người không xảy ra, thuộc trường hợp

phạm tội chưa đạt, nên chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, áp dụng các

quy định tại Điều 15, Điều 57 Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi vụ án xảy ra, trong quá trình điều tra bị hại là anh Lê Văn Tr yêu cầu

Vũ Ngô Đăng Kh bồi thường các chi phí cấp cứu, viện phí điều trị thương tích, thu

nhập bị mất trong thời gian điều trị và tiền tổn thất tinh thần, tổng cộng là

474.000.000 đồng (BL: 333-334), bị cáo Kh chưa bồi thường. Tại phiên tòa, anh

Lê Văn Tr giữ nguyên yêu cầu như trên, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền

474.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại. Xét thấy đây là sự thỏa thuận tự nguyện

giữa bị cáo và bị hại, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã

hội, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm có:

- 01 (một) cây kiếm bằng kim loại dài 99cm, lưỡi kiếm bằng kim loại hình

cong dài 74cm màu đen trắng, là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) USB có chứa đoạn video ghi nhận diễn biến vụ án được lưu giữ

tại hồ sơ vụ án.

- 01 (một) xe hai bánh gắn máy nhãn hiệu Yamaha loại Nouvo, biển số

59V1-921.17 (Biển số rời), số khung: RLCN5P1109Y069207, số máy: 5P11069204 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra), thu giữ của bị cáo Kh, bị cáo khai xe mua trên mạng của người không rõ lai lịch. Qua xác minh xe có biển số thật, số khung số máy không thay đổi, do anh Lê Thành Luyện, sinh năm 1982, trú tại 405/29/2 Thống Nhất, Phường 11, quận Gò Vấp đứng tên sở hữu. Anh Luyện khai xe anh mua từ năm 2013, đến tháng 5/2019 anh bán lại xe cho anh Đức (không rõ lai lịch).

Xét thấy chiếc xe hai bánh gắn máy nhãn hiệu Yamaha loại Nouvo, biển số

59V1- 921.17 (Biển số rời), số khung: RLCN5P1109Y069207, số máy: 5P11069204 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra), hiện chưa xác định được chủ sở hữu, nên giao cho Cục thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm, nếu không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận, thì chiếc xe trên được tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm

theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn

luật định.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều

57 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Vũ Ngô Đăng Kh 10 (mười) năm tù về tội “Giết người”.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 18/9/2022.

[2] Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 591 Bộ luật dân sự

Buộc bị cáo Vũ Ngô Đăng Kh bồi thường cho bị hại Lê Văn Tr số tiền

474.000.000 (bốn trăm bảy mươi bốn triệu) đồng.

[2] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017);

Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kiếm bằng kim loại dài 99cm, lưỡi kiếm

bằng kim loại hình cong dài 74cm màu đen trắng.

- Giao cho Cục thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên

các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm, nếu không có chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe hai bánh gắn máy nhãn hiệu Yamaha loại Nouvo, biển số 59V1-921.17 (Biển số rời), số khung: RLCN5P1109Y069207, số máy:

5P11069204 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không

kiểm tra) đến nhận, thì chiếc xe trên được tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/459 ngày 31/8/2023 của

Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

[3] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 147 của Bộ luật

tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Vũ Ngô Đăng Kh nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí

hình sự sơ thẩm; 22.960.000 (Hai mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi ngàn) đồng án

phí Dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày anh Lê Văn Tr có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Vũ Ngô

Đăng Kh không thi hành khoản tiền bồi thường nêu trên, thì hàng tháng bị cáo

Vũ Ngô Đăng Kh còn phải trả cho anh Lê Văn Tr khoản tiền lãi theo mức lãi suất

quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật tố tụng dân sự, tương ứng với thời gian và

số tiền chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật

Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật Thi hành án dân sự.

[4] Về quyền kháng cáo:

Căn cứ khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

Bị cáo; Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên

án.

Cỡ chữ