- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Trọng Trí - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Trọng T, Trần Nguyên V, Hồ Thanh T1, cũng như kháng cáo của bà Dương Thị Xà R (giám hộ cho bị cáo T1) vì 03 bị cáo T, V, T1 cũng như bà Dương Thị Xà R- rút kháng cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 629/2019/HS-PT Ngày 21/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Chánh Trung
Các Thẩm phán:
Ông Đỗ Đình Thanh
Ông Trần Văn Mười
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Tu – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 283/2019/TLPT-HS ngày 30 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Huỳnh Trọng T, Trần Nguyên V, Hồ Thanh T1 kháng cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2019/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Huỳnh Trọng T - sinh ngày 13/8/1997;
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp Huỳnh Sơn, xã Lình Huỳnh, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: Lớp 8/12; con ông: Huỳnh Văn T2, sinh năm 1972; con bà: Võ Diệu H, sinh năm 1976 (đều còn sống). Anh chị em ruột gồm: 01 người sinh năm 2000; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 04/9/2018; tạm giam ngày 12/9/2018 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
2. Trần Nguyên V - sinh ngày 18/10/2002;
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp 7B, xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: Lớp 4/12; con ông: Trần Văn L, sinh năm 1975 (chết); con bà: Lê Thị Mộng T3, sinh năm 1982. Anh chị em ruột gồm: 01 người sinh năm 2009; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 04/9/2018, đến ngày 12/9/2018 quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
3. Hồ Thanh T1 - sinh ngày 19/8/2003.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp 7B, xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: Lớp 8/12; con ông: Hồ Văn V1, sinh năm 1977; con bà: Dương Thị Xà R, sinh năm 1979 (đều còn sống). Anh chị em ruột gồm: 03 người, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2005; Bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 04/9/2018, đến ngày 12/9/2018 quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người giám hộ cho bị cáo Trần Nguyên V: Bà Lê Thị Mộng T3, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp 7B, xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
Người giám hộ cho bị cáo Hồ Thanh T1: Bà Dương Thị Xà R, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp 7B, xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Văn S, sinh năm 1962 và bà Phạm Thị Ch, sinh năm 1968. Cùng địa chỉ: Tổ 11, khu phố Lo Bom, thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Huỳnh Trọng T: Luật sư Trần Dân Quốc, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Trần Nguyên V: Luật sư Nguyễn Văn Nuôi, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Hồ Thanh T1: Luật sư Ngô Ngọc Thành, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21/8/2018, ghe Nguyên Thanh ra cửa biển Lình Huỳnh, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, đánh bắt thuỷ hải sản. Đến ngày 03/9/2018 ghe vào cửa biển sông Ông Đốc neo đậu tại Cảng cá Sông Đốc thuộc Khóm 11, thị trấn Sông Đốc, Huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Khoảng 19 giờ ngày 03/9/2018, T, V, T1, T4 và một số ngư phủ khác đến nhậu tại quán “Thủy Tiên” gần Cảng cá. Trong lúc tất cả còn đang nhậu thì Tu và V nghỉ nhậu bỏ ra ngoài võng của quán nằm uống nước và chơi game. T4 trong phòng nhậu đi ra gặp T1 và V, có lời qua tiếng lại, xảy ra mâu thuẫn. T4 quay vào phòng lấy cây gắp nước đá đi ra đánh T1, V bênh vực cho T1 nên cả hai dùng tay đánh lại T4 thì được mọi người can ngăn, To quay lại phòng nhậu, còn T1 và V bỏ đi ra đến lộ. Lúc này, T đi ra gặp hỏi T1 và V có chuyện gì, T1 nói T4 vô cớ đánh T1. T kêu T1 và V về ghe lấy dao lên chém T4 trả thù, lúc này V và T1 đồng ý và V nói “Lấy dao lên đâm chết mẹ nó luôn” và cả ba cùng đi về Cảng cá. Khi đến Cảng cá nơi ghe đậu, T đứng trên bờ, còn T1 và V xuống ghe lấy dao. T1 vào khu vực bếp nấu ăn của ghe lấy 01 cây dao Thái Lan cán màu vàng bỏ vào túi quần sau, V đi xuống khu vực cabin của ghe lấy 04 cây dao Thái Lan cán vàng bỏ vào túi quần trước rồi đi lên Cảng cá thì đã làm rơi mất 01 cây còn lại 03 cây, khi V gặp T, V đưa cho T 01 cây dao, T cầm dao trên tay thì Nguyễn Hoàng Cầu (tên gọi khác là Dần) là thuyền trưởng của ghe thấy, Cầu đến gặp khuyên ngăn và lấy cây dao trên tay T bẻ gãy và ném bỏ, sau đó tất cả cùng đi đến quán ăn cháo vịt cách quán nhậu “Thủy Tiên” khoảng 20m.
Sau khi ăn cháo xong, khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, trên đường về nơi ghe đậu thì T, Tu và V gặp To. Lúc này To nói “Tụi mầy muốn chơi nữa hả gì” T đáp lại “Chơi thì chơi”. Lúc này V và Tu biết sẽ đánh nhau với T4 nên V đến đứng bên phải của T, T1 đứng bên trái của T. T kêu V đưa dao cho T, V biết là T kêu V đưa dao để T đâm To nên V vén tà áo của V đang mặc trên người lên để lộ dao ra ngoài, T lấy con dao trong túi quần của V cầm trên tay phải, To xông đến đánh T thì V và T1 xông đến dùng tay đánh vào người của T4 nhiều cái, T dùng dao đâm vào người của To nhiều nhát, làm To ngã nằm xuống lộ thì được mọi người can ngăn. T bỏ chạy về hướng chợ Sông Đốc, trên đường đi T ném bỏ cây dao và sau đó bị bắt, Tu và V xuống ghe ném các cây dao xuống sông Ông Đốc sau đó bị Công an thị trấn Sông Đốc đến bắt cùng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Riêng To được Nguyễn Hoàng C và Đỗ Thanh P đưa đến Phòng khám Đa khoa khu vực Sông Đốc cấp cứu nhưng To tử vong trên đường đi.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 08/TT ngày 11/9/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau, đối với Trần Văn T4, ghi nhận và kết luận:
Nguyên nhân chết sốc mất máu cấp do vết thương thấu ngực thủng tim trái (tâm thất trái)/đa vết thương.
Kết luận khác: Do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2019/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau quyết định:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Trọng T, Trần Nguyên V, Hồ Thanh T1 phạm tội“Giết người”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Trọng T.
Áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Nguyên V và Hồ Thanh T1.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Trọng T: 12 (Mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2018.
Xử phạt: Bị cáo Trần Nguyên V: 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/9/2018 đến 12/9/2018.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Thanh T1: 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/9/2018 đến 12/9/2018
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Huỳnh Trọng T, Trần Nguyên V, Hồ Thanh T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bà Dương Thị Xà R (mẹ của bị cáo T1) kháng cáo xin giảm án cho bị cáo Tu. Tại phiên tòa cấp phúc thẩm hôm nay 03 bị cáo T, V, T1 cũng như bà Dương Thị Xà R rút lại kháng cáo; đồng ý như án sơ thẩm xử.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/5/2019 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị số 17/QĐ-VC3-V1 kháng nghị đề nghị phúc xử tăng hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Trọng T.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận việc 03 bị cáo T, V, T1 cũng như bà Dương Thị Xà R (mẹ bị cáo T1)- rút lại kháng cáo, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các kháng cáo nêu trên; đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh – xử tăng hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Trọng T lên từ 18 đến 20 năm tù.
Ông Trần Văn S, bà Phạm Thị C không có kháng cáo mà có đơn yêu cầu buộc bà Lê Thị Mộng T3 (mẹ của bị cáo V), bà Dương Thị Xà R (mẹ của bị cáo T1) phải bồi thường cho ông, bà 200.000.000đ theo như án sơ thẩm xử.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Trọng T thì đề nghị không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên án sơ thẩm xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm, 03 bị cáo Huỳnh Trọng T, Trần Nguyên V, Hồ Thanh T1 cũng như bà Dương Thị Xà R (giám hộ cho bị cáo T1) có kháng cáo, rút lại kháng cáo. Xét việc rút lại các kháng cáo này là tự nguyện, phù hợp với pháp luật quy định, nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các kháng cáo nêu trên.
Đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị đề nghị phúc xử tăng hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Trọng T thì thấy;
Về hình thức: Kháng nghị trong hạn luật định được xem xét là hợp lệ.
Xét về nội dung vụ án thì thấy:
Vào khoảng 19 giờ ngày 03/9/2018, tại quán Thủy Tiên thuộc thị trấn Sông Đốc, Huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Sau khi nhậu thì giữa anh Trần Văn To với Trần Nguyên V, Hồ Thanh T1 xẩy ra mâu thuẫn, anh T4 có dùng cây gắp nước đá đánh T1 và V; T1, V có dùng tay đánh lại anh T4; được mọi người can ngăn đôi bên không bị thương tích, anh To quay lại bàn nhậu tiếp, còn T1 và V bỏ ra lộ. Lúc này Huỳnh Trọng T gặp T1, V hỏi có chuyện gì, thì T1 nói anh T4 vô cớ đánh T1, T kêu T1 và V về ghe lấy dao lên chém anh T4 trả thù được T1 và V đồng ý. V nói lấy dao lên chém chết mẹ nó đi, cả 03 cùng đi về Cảng cá, khi đến ghe T đứng trên bờ, T1 và V xuống ghé lấy dao, T1 lấy 01 cây dao Thái Lan màu vàng, V lấy 04 con dao Thái Lan cán màu vàng, khi lên Cảng V làm rớt mất 01 cây, khi V gặp T thì đưa cho T 01 cây, khi anh Nguyễn Văn Cầu thuyền trưởng gặp T thì anh Cầu lấy lại con dao của T bẻ gẫy và ném bỏ, đi đến quán vịt cách quán Thủy Tiên 20m thì cả 03 bị cáo T, V, Tu vào quán ăn cháo, đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi quay về ghe thì cả 03 gặp anh Trần Văn T4, anh T4 nói tụi mày muốn chơi nữa hả; T đáp chơi thì chơi, lúc này T kêu V đưa dao cho T, T lấy con dao trong túi quần của V (khi V vén áo), khi anh T4 xông đến đánh T bằng tay thì V và T1 xông đến đánh vào người anh T4 nhiều cái. T dùng dao đâm vào người anh T4 nhiều nhát, làm anh T4 té ngã xuống lộ thì V, T1. T ném các con dao mang theo xuống sông Ông Đốc rồi bỏ về ghe. Anh T4 được chở đi cấp cứu nhưng tử vong trên đường chở đi cấp cứu.
Theo kết luận giám định pháp y tử thi xác định anh T4 có nhiều vết thương như: 01 vết thương bụng trái ngang rốn, kích thước: 5cm x 1cm, kéo miệng 7cm, lòi ruột non, bờ sắc hướng vào trong; 01 vết thương vùng hông trái, kích thước: 2,2cm x 1cm, bờ sắc hướng xuống dưới; 01 vết thương nách sau trái, kích thước: 2cm x 1cm, bờ sắc hướng xuống dưới; 01 vết thương gai chậu trước, bên trái, kích thước: 1,7cm x 0,5cm, kéo miệng 2,4cm, bờ sắc hướng ra ngoài và xuống dưới; ...Kết luận nạn nhân tử vong do vết thương thấu ngực, thủng tim trái (tâm thất trái) đa vết thương.
Tại phiên tòa cấp phúc thẩm hôm nay 03 bị cáo T, V, T1 thừa nhận anh Trần Văn T4 chết là do T1, V dùng tay đánh, bị cáo T dùng dao đâm gây ra cái chết cho anh To.
Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng là vì bị cáo thực hiện hành vi dùng tay đánh, dùng dao đâm gây ra hậu quả chết người.
Việc anh T4 với các bị cáo T1, V có mâu thuẫn tại quán Thủy Tiên trên được mọi người can ngăn, sự việc được dừng lại, thế nhưng T1, V không dừng lại mà tìm hung khí cùng với bị cáo T đi tìm anh T4 để đánh đâm trả thù, khi gặp anh T4, anh T4 chỉ dùng tay đánh bị cáo T, bên bị cáo T có cả 03 T1, V dùng tay đánh anh T4 tạo điều kiện cho T dùng dao đâm anh T4, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt đối với các bị cáo là đúng. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy; bị cáo T là người xúi dục bị cáo khác đi đánh nạn nhân trả thù, là người trực tiếp dùng dao đâm nạn nhân, không những đâm 01 dao mà đâm nhiều dao, tước đi sinh mạng của nạn nhân, hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất côn đồ, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 năm tù là chưa tương xứng với tính chất mức độ phạm tội nên cần phải chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là xử tăng hình phạt đối với bị cáo T.
Đối với 02 bị cáo còn lại là V và T1, 02 bị cáo này trực tiếp dùng tay đánh nạn nhân tạo điều kiện cho bị cáo T dùng dao đâm nạn nhân với vai trò đồng phạm. T1, V lúc phạm tội là vị thành niên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Tu 04 năm, bị cáo V 05 năm tù. Do 02 bị cáo này rút kháng cáo, bà Dương Thị Xà R (mẹ của bị cáo T1) rút kháng cáo, nên phần án sơ thẩm xử phạt đối với 02 bị cáo này đã có hiệu lực pháp luật.
Đối với ông Trần Văn S và bà Phạm Thị C có đơn yêu cầu buộc bà Lê Thị Mộng T (giám hộ cho bị cáo V), bà Dương Thị Xà R (giám hộ cho bị cáo T1) phải bồi thường cho ông, bà 200.000.000đ theo như án sơ thẩm.
Xét yêu cầu của ông Trần Văn S và bà Phạm Thị C không thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng xét xử. Bản án có hiệu lực pháp luật thì ông, bà có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự buộc bà T3, bà R thi hành - Theo luật thi hành án dân sự quy định, nên yêu cầu của ông Sỹ, bà Chưởng không xem xét ở cấp phúc thẩm.
Quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên được ghi nhận.
Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Trọng T không phù hợp với nhận định trên nên không được chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự năm 2015;
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Trọng T, Trần Nguyên V, Hồ Thanh T1, cũng như kháng cáo của bà Dương Thị Xà R (giám hộ cho bị cáo T1) vì 03 bị cáo T, V, T1 cũng như bà Dương Thị Xà R- rút kháng cáo.
Phần án sơ thẩm áp dụng điều luật xử phạt đối với bị cáo Trần Nguyên V 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ trước từ ngày 04/9/2018 đến ngày 12/9/2018; phạt bị cáo Hồ Thanh T1 04 năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ trước từ ngày 04/9/2018 đến ngày 12/9/2018 về tội “Giết người”, đã có hiệu lực pháp luật từ ngày 21/10/2019.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xử tăng hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Trọng T.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Phạt bị cáo Huỳnh Trọng T 16 (mười sáu) năm tù về tội “Giết người” thời hạn tù được tính từ ngày 04/9/2018.
Việc án sơ thẩm xử buộc các bị cáo: Huỳnh Trọng T, Trần Nguyên V, Hồ Thanh T1, người giám hộ cho bị cáo Tu là bà Dương Thị Xà R, người giám hộ cho bị cáo V là bà Lê Thị Mộng T3 – có trách nhiệm bồi thường cho gia đình nạn nhân Trần Văn T4 do ông Trần Văn S và bà Phạm Thị C đại diện để nhận 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng); chia theo phần mỗi bị cáo bồi thường số tiền bằng nhau theo thỏa thuận là 66.666.000đ (Sáu mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) – Phần này đã có hiệu lực kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Các phần quyết định của bản án sơ thẩm xét xử không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
03 bị cáo Huỳnh Trọng T, Trần Nguyên V, Hồ Thanh T1 cũng như bà Dương Thị Xà R không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 21/10/2019./
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại Tp. HCM; - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - Cục THADS tỉnh Cà Mau; - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Trại tạm giam tỉnh Cà Mau; - Bị cáo (TTG Công an tỉnh Cà Mau tống đạt cho bị cáo); - Ông Sỹ, bà Chưởng; - UBND xã Lình Huỳnh, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang; - UBND xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; - Lưu văn phòng, hồ sơ vụ án (20b -ĐTT). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Chánh Trung |