vanban.org

Bản án 628/2024/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/12/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "ông H kiện ông S tranh chấp hợp đồng đặt cọc"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật tr…; Điều 147 Bộ luật Tố t ng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 628/2024/DS-PT
Ngày 23-12-2024
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thành Trung

Các Thẩm phán:

Ông Lê Sỹ Trứ

Ông Nguyễn Văn Tài

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Song Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- i di n i n i m t nh n d n t nh nh ương tham gia phiên tòa: bà Trần Đức Thoại - i sát viên.

Ngày 23 tháng 12 nă 2024, tại tr s Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử phúc thẩ c ng khai v án dân sự th lý số 460/2024/TLPT-DS ngày 22/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do Bản án dân sự sơ thẩ số 102/2024/DS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố TD, tỉnh Bình Dương kháng cáo.

Theo Quyết đ nh đưa v án ra xét xử số 492/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 nă 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Phạ Văn H, sinh nă 1973; đ a chỉ thường trú: số 450/30 Lê Hồng Phong, hu phố 3, phường P, thành phố TD, tỉnh Bình Dương; có ặt.

- Bị đơn: ông Phan Thanh S, sinh nă 1976; đ a chỉ thường trú: số T6/27 khu phố Bình Đức 2, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có ặt.

- Ngư i kháng cáo: đơn ông Phan Thanh S.

NỘI D NG V ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phan Văn H trình bày:

Ngày 05/9/2023, giữa ng Phạ Thanh H và ông Phan Thanh S có thoả thuận chuy n nhượng quyền sử d ng đất diện tích 1.765,5 2, thuộc thửa số 832, tờ ản đồ số 64 toạ lạc tại phường P, thành phố TD, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số DA 693909, vào sổ cấp GCN: CS16756, cấp ngày 13/12/2021 do S Tài nguyên và M i trường tỉnh Bình Dương cấp cho ng Phan Thanh S. Các ên thoả thuận giá chuy n nhượng là 8.800.000.000 đồng. Cùng ngày 05/9/2023 ng Phạ Văn H và ông Phan Thanh S tiến hành lập hợp đồng đặt cọc đ chuy n nhượng thửa đất nêu trên và ng H đã đặt cọc cho ng Phan Thanh S số tiền 1.000.000.000 đồng, ng S đã ký nhận số tiền cọc nêu trên vào ngày 05/9/2023.

Theo thoả thuận tại hợp đồng đặt cọc nêu trên, hai ên thoả thuận tại Điều 2 như sau “…Lần 2: Ngày 05/10/2023, sau khi bên A (bên ông S) hoàn tất tất cả các thủ tục và ký văn bản chuyển nhượng….thì bên B (bên ông H) có trách nhiệm thanh toán số tiền 7.800.000.000 đồng…” Các ên thoả thuận việc hoàn tất các thủ t c đ chuy n nhượng là do ông Phan Thanh S thực hiện toàn ộ như đo đạc thực tế, xác đ nh ranh, cắ ốc, xác nhận tình trạng ất động sản…. Do thửa đất nhận chuy n nhượng là đất trồng cây lâu nă (trước đây là đất lúa) chưa có ranh ốc rõ ràng, nên ng H yêu cầu ng S phải thực hiện việc đo đạc thực tế, có ản vẽ, xác đ nh ranh, cắ ốc rõ ràng khi giao đất cho ng H. Ngoài ra, hai ên cũng thoả thuận ằng lời nói là sẽ ký hợp đồng chuy n nhượng tại Phòng C ng chứng Nguyễn Th Gái.

Đến ngày 05/10/2023, là thời hạn tiến hành ký hợp đồng chuy n nhượng tại phòng c ng chứng nhưng ng S chưa thực hiện được việc đo đạc thực tế, xác đ nh ranh, cắ ốc, cung cấp ản vẽ ới nhất ( ản vẽ đ thực hiện việc chuy n nhượng và giao đất cho ng H) nên ông H kh ng đồng ý. Vì vậy, ngày 05/10/2023 hai ên kh ng ký hợp đồng chuy n nhượng quyền sử d ng đất nêu trên. Ông H đã yêu cầu ng S trả lại tiền cọc cho ng H nhưng ng S không đồng ý. Ông H đã yêu cầu nhiều lần và liên hệ với ng S là nếu kh ng là được thủ t c chuy n nhượng (đo đạc, xác đ nh ranh ốc, có ản vẽ…) thì trả lại tiền cọc cho ng H nhưng ng S vẫn kh ng trả. Sau đó (sau ngày 05/10/2023), ng S nhờ đ a chính phường P đến đất đ xác đ nh ranh ốc, ng H cũng có ặt nhưng đ a chính phường đứng cách xa thửa đất và trả lời là do đất ruộng nên phải nhờ cơ quan chuyên n đo đạc đ xác đ nh ranh ốc, ngoài ra h đó (kh ng nhớ ngày) cũng có ột số người khác nữa nhưng ng H kh ng iết là ai, kh ng iết là cơ quan, nào tổ chức nào đến đất và khi đến đất thì có chủ đất liên ranh đến ngăn cản, kh ng cho đo đạc. Vì vậy, ng H đã là đơn gửi UBND phường P giải quyết, tại uổi là việc ngày 24/11/2023 tại UBND phường P, ông S đã hứa hẹn là sẽ liên hệ cơ quan chức năng đ thực hiện yêu cầu đo đạc thực tế, cắ ranh ốc đối với thửa đất chuy n nhượng cho ng H, thời hạn thực hiện là đến ngày 30/11/2023 nhưng ng S vẫn kh ng thực hiện được thủ t c đo đạc, cắ ốc, có ản vẽ đ chuy n nhượng thửa đất cho ng H. Đến thời đi hiện nay ng S chỉ cung cấp ản trích l c đ a chính thời đi nă 2021 đối với thửa đất tại thời đi

ng S nhận chuy n nhượng của người khác nên ng H kh ng đồng ý, ng H yêu cầu phải có ản đo vẽ thực tế ới nhất, phải cắ ranh ốc rõ ràng tại thời đi

ng S chuy n nhượng cho ng H nhưng ông S không thực hiện được

Do ông S vi phạ hợp đồng nên ng H kh i kiện yêu cầu Toà án giải quyết. Ngoài ra, đối với thửa đất nêu trên hiện nay kh ng có lối đi vào thửa đất, được iết trước đây thửa đất này đi vào ằng đường ờ suối nhưng hiện nay đường ờ suối đã các hộ dân lân cận rào chắn kh ng có lối đi vào, khi ng H tiến hành đặt cọc nhận chuy n nhượng thửa đất nêu trên thì ng H có đến xe đất, xe giấy chứng nhận quyền sử d ng đất và được ng S th ng áo là thửa đất nêu trên có lối đi vào là đường ờ suối và ng H nhìn trên giấy chứng nhận cũng thấy có ờ suối nên ng H đồng ý nhận chuy n nhượng. Nhưng thực tế hiện nay qua tì hi u thì đường ờ suối đã các hộ dân lân cận rào chắn lại nên thửa đất kh ng có lối đi vào. Việc ng S trình ày là ặc dù ng H iết đất kh ng có lối đi vào nhưng vẫn đồng ý nhận chuy n nhượng là vì ng H có ột thửa đất giáp với thửa đất của ng S nên ông H đồng ý nhận chuy n nhượng đ hợp thửa thì thửa đất này sẽ có lối đi là kh ng đúng. Thực tế ng H cũng có ột thửa đất gần đó nhưng kh ng giáp ranh với thửa đất của ng S nên kh ng th nào hợp thửa được.

Hiện nay đã quá lâu nhưng ng S kh ng thực hiện được việc đo đạc thực tế, xác đ nh ranh ốc của thửa đất chuy n nhượng. Do ng S đã vi phạ hợp đồng nên ng H kh ng đồng ý tiếp t c nhận chuy n nhượng thửa đất nêu trên nữa. Ông Phạ Văn H yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

1. Hủy ỏ hợp đồng đặt cọc giữa ng Phạ Văn H và ông Phan Thanh S ký kết ngày 05/9/2023.

2. Buộc ông Phan Thanh S phải trả số tiền cọc 1.000.000.000 đồng và phạt cọc 1.000.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền ng Phan Thanh S phải trả là 2.000.000.000 đồng.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phan Thanh S trình bày:

Ngày 05/9/2023, giữa ng Phan Thanh S và ng Phạ Văn H có thoả thuận chuy n nhượng quyền sử d ng đất diện tích 1.765,5 2, thuộc thửa số 832, tờ ản đồ số 64 toạ lạc tại phường P, thành phố TD, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số DA 693909, vào sổ cấp GCN: CS16756, cấp ngày 13/12/2021 do S Tài nguyên và M i trường tỉnh Bình Dương cấp cho ng Phan Thanh S. Các ên thoả thuận giá chuy n nhượng là 8.800.000.000 đồng. Cùng ngày 05/9/2023 ông Phan Thanh S và ng Phạ Văn H tiến hành lập hợp đồng đặt cọc đ chuy n nhượng thửa đất nêu trên và ng H đã đặt cọc cho ng S số tiền 1.000.000.000 đồng, ng S đã ký nhận số tiền cọc nêu trên vào ngày 05/9/2023.

Theo thoả thuận tại hợp đồng đặt cọc nêu trên, hai ên thoả thuận tại Điều 2 như sau “…Lần 2: Ngày 05/10/2023, sau khi bên A (bên ông S) hoàn tất tất cả các thủ tục và ký văn bản chuyển nhượng….thì bên B (bên ông H) có trách nhiệm thanh toán số tiền 7.800.000.000 đồng…” Các ên thoả thuận việc hoàn tất các thủ t c đ chuy n nhượng là do ông S thực hiện toàn ộ như đo đạc thực tế, xác đ nh ranh, cắ ốc, xác nhận tình trạng ất động sản…. Thửa đất nhận chuy n nhượng là đất trồng cây lâu nă (trước đây là đất ruộng), ranh ốc được xác đ nh ằng đường ờ ruộng, nhưng sau khi ký hợp đồng đặt cọc với ng H và trước ngày 05/10/2023 thì ng S đã tiến hành cắ ranh ốc ằng tr ê t ng + sắt đối với thửa đất. Ngoài ra, hai ên cũng thoả thuận ằng lời nói là sẽ ký hợp đồng chuy n nhượng tại Phòng C ng chứng Nguyễn Th Gái. Đến ngày 05/10/2023, là thời hạn ký hợp đồng chuy n nhượng tại phòng c ng chứng nhưng ng H cho rằng ng S chưa thực hiện việc đo đạc thực tế, cắ ốc, kh ng có ản vẽ nên ng H kh ng đồng ý ký hợp đồng. Vào ngày 05/10/2023 khi đến phòng c ng chứng đ ký chuy n nhượng thì ng S đã xác nhận xong tình trạng ất động sản và có ản trích l c đ a chính ngày 04/01/2021 (sử d ng ản trích l c đ a chính có đo đạc khi ng S nhận chuy n nhượng của ng Nguyễn Tuấn Anh vào nă 2021).

Do ông H kh ng ch u ký hợp đồng nên ngày 05/10/2023 hai ên không ký hợp đồng chuy n nhượng quyền sử d ng đất nêu trên. Sau ngày 05/10/2023, ông S có nhờ đ a chính phường P đến thửa đất chuy n nhượng đ xác đ nh ranh ốc thửa đất thì đ a chính phường P có xuống đất và ng H cũng có ặt thì đ a chính phường trả lời là đất đã có ranh ốc rồi và đất ới được cấp giấy chứng nhận nên kh ng cần phải đo đạc. Sau đó ng H có yêu cầu UBND phường P giải quyết, tại uổi là việc ngày 24/11/2023 tại UBND phường P, ông H yêu cầu phải đo đạc thực tế, giao ranh, ốc phần đất chuy n nhượng thì ng S cũng đồng ý, ng S đồng ý hệ cơ quan chức năng đ thực hiện yêu cầu đo đạc thực tế, cắ ranh ốc đối với thửa đất chuy n nhượng cho ng H, thời hạn thực hiện là đến ngày 30/11/2023. Sau ngày 24/11/2023, ng S có liên hệ cơ quan chuyên

n là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố TD đ yêu cầu tiến hành đo đạc thực tế, xác đ nh ranh ốc nhưng Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố TD kh ng tiến hành đo đạc thực tế à ng S chỉ được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố TD cung cấp hồ sơ trích l c đối với thửa đất chuy n nhượng cho ng H trong đó có ản trích l c đ a chính nhưng ng H vẫn kh ng đồng ý.

Nay đối với yêu cầu kh i kiện của ng H thì ông S kh ng đồng ý. Vì ng H là người kh ng đồng ý ký hợp đồng chuy n nhượng chứ kh ng phải ng S. Ông S vẫn có nguyện vọng uốn tiếp t c chuy n nhượng cho ng H. Nhưng ông H kh ng đồng ý thì ng H phải

ất cọc. Trước ngày 05/10/2023, ng S đến phòng c ng chứng đ ký hợp đồng chuy n nhượng và đã hoàn tất thủ t c đ chuy n nhượng cho ng H nhưng do ng H kh ng đồng ý.

Ngoài ra, đối với thửa đất nêu trên hiện nay kh ng có lối đi vào thửa đất, trước đây thửa đất này đi vào ằng đường ờ suối nhưng hiện nay đường ờ suối đã các hộ dân lân cận rào chắn kh ng có lối đi vào, khi ng S nhận chuy n nhượng thửa đất nêu trên của chủ đất trước thì ng S có đến xe đất và cũng iết thửa đất hiện nay kh ng có lối đi vào. Đến khi ng H đặt cọc nhận chuy n nhượng thì ng H cũng đến xe đất, xe giấy chứng nhận quyền sử d ng đất và ông H cũng iết tình trạng thửa đất hiện tại kh ng có lối đi vào nhưng ng H vẫn đồng ý nhận chuy n nhượng vì được iết ng H cũng có ột thửa đất gần, giáp với thửa đất của ng S nên ông H uốn nhận chuy n nhượng đ ng H hợp thửa. Hiện nay ông S vẫn có nguyện vọng uốn tiếp t c chuy n nhượng thửa đất nêu trên cho ng H, ông H uốn yêu cầu đo vẽ như thế nào thì ông H cùng ông S đến Cơ quan chuyên n đo đạc đ yêu cầu đo vẽ theo ý uốn của ng H.

Tại Bản án dân sự sơ thẩ số 102/2024/DS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố TD, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn H đối với bị đơn ông Phan Thanh S về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Tuyên hủy Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ký ngày 05/9/2023 giữa ông Phạm Văn H và ông Phan Thanh S đối với thửa đất số 832, t bản đồ số 64 toạ lạc tại phư ng P, thành phố TD, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận QSDĐ số DA 693909, vào sổ cấp GCN: CS16756, cấp ngày 13/12/2021 do Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương cấp cho ông Phan Thanh S.

Buộc ông Phan Thanh S có trách nhiệm trả cho ông Phạm Văn H số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng), trong đó gồm: tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng và phạt cọc 1.000.000.000 đồng.

Ngoài ra, ản án sơ thẩ còn quyết đ nh về án phí, trách nhiệ chậ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩ , ngày 12/8/2024, ông Phan Thanh S là đơn có đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩ xét xử sửa ản án sơ thẩ , kh ng chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ng Phan Văn H. Tại phiên tòa, đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ý kiến của i sát viên đại diện Viện i sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Những người tiến hành tố t ng và người tha gia tố t ng tại Tòa án cấp phúc thẩ đã thực hiện đúng quy đ nh của Bộ luật Tố t ng dân sự. Về nội dung: B đơn kháng cáo nhưng kh ng cung cấp được chứng cứ ới. Đề ngh Hội đồng xét xử ác kháng cáo của đơn, giữ nguyên ản án sơ thẩ .

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án được thẩ tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh t ng, ý kiến của i sát viên;

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

[1] Hợp đồng đặt cọc ngày 05/9/2023 giữa ên A ng Phan Thanh S (sau đây viết là đơn) với ên B ng Phan Văn H (sau đây viết là nguyên đơn), có nội dung: đơn được S Tài nguyên và M i trường tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất ngày 13/12/2021, diện tích đất 1.765,5 2 thuộc thửa đất số 832, tờ ản đồ số 64, tọa lạc tại phường Phú Hòa, thành phố TD, tỉnh Bình Dương. Các ên thỏa thuận giá án là 8.800.000.000 đồng; nguyên đơn đặt cọc cho đơn lần 1 ngày 05/9/2023 là 1.000.000.000 đồng đ đả ảo cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng. Lần 2 ngày 05/10/2023, sau khi đơn hoàn tất thủ t c ký văn ản chuy n nhượng quyền sử d ng đất theo th ng tin trên cho nguyên đơn tại văn phòng công chứng có thẩ quyền thì nguyên đơn có trách nhiệ thanh toán cho đơn số tiền còn lại 7.800.000.000 đồng. Về thuế, thuế ên ua ên ua ch u, thuế ên án ên án ch u. Các ên ca kết: đơn ca kết tài sản trên thuộc quyền s hữu của ình, có đầy đủ các giấy tờ chứng inh đất kh ng có tranh chấp với ất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào. Sau khi hợp đồng được ký kết, quá thời hạn thỏa thuận trên, nếu đơn kh ng án, chuy n nhượng tài sản cho nguyên đơn thì đơn phải ồi thường cho nguyên đơn gấp 02 lần số tiền à nguyên đơn đã đặt cọc cho đơn. Ngược lại, nếu nguyên đơn kh ng tiến hành mua thì phải ch u ất số tiền đã đặt cọc (1.000.000.000 đồng). Hợp đồng có ký tên xác nhận của nguyên đơn và đơn.

[2] Quá trình thực hiện hợp đồng, sau khi nhận tiền cọc 1.000.000.000 đồng của nguyên đơn vào ngày 05/9/2023. B đơn có đơn ngày 02/10/2023 gửi UBND phường Phú Hòa xin xác nhận tình trạng ất động sản và được UBND phường Phú Hòa xác nhận ngày 04/10/2023 với nội dung: diện tích đất 1.765,5m2 thuộc thửa đất số 832, tờ ản đồ số 64 do S Tài nguyên và M i trường tỉnh Bình Dương cấp ngày 13/12/2021 cho đơn thì đất kh ng có tranh chấp, kh ng kê iên và ngày 05/10/2023 (là thời đi các ên thỏa thuận theo hợp đồng đặt cọc sẽ thực hiện ký kết hợp đồng chuy n nhượng quyền sử d ng đất tại văn phòng c ng chứng có thẩ quyền và nguyên đơn phải thanh toán số tiền 7.800.000.000 đồng còn lại cho đơn) đơn th ng áo cho nguyên đơn đến Văn phòng C ng chứng Nguyễn Th Gái đ các bên thực hiện ký kết hợp đồng chuy n nhượng quyền sử d ng đất như đã thỏa thuận và giao số tiền còn lại cho đơn. Quá trình giải quyết v án và tại phiên tòa, nguyên đơn thừa nhận vào ngày 05/10/2023, nguyên đơn có nhận được th ng áo của đơn là đến văn phòng c ng chứng đ 02 ên ký kết hợp đồng chuy n nhượng quyền sử d ng đất nhưng nguyên đơn kh ng đến ký kết hợp đồng vì cho rằng đơn chưa lo xong các thủ t c: xác đ nh ốc giới, cắ ốc, đo đạc có ản vẽ và phải có đường đi vào đất. Thấy rằng: đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất hợp pháp, có đủ điều kiện đ thực hiện quyền của người sử d ng đất. Đất của đơn kh ng có tranh chấp, kh ng kê iên đã được UBND phường Phú Hòa xác nhận tình trạng ất động sản ngày 04/10/2023 có đủ điều kiện đ các ên thực hiện thủ t c ký kết hợp đồng chuy n nhượng quyền sử d ng đất. B đơn đã thực hiện đúng thỏa thuận, đúng ca kết chung tại Điều 4 của Hợp đồng đặt cọc, đơn kh ng có lỗi. Nguyên đơn đưa ra các lý do nêu trên (kh ng có thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc) đ kh ng ký kết hợp đồng chuy n nhượng quyền sử d ng đất là không đúng với thỏa thuận của các ên trong hợp đồng đặt cọc, nguyên đơn đã vi phạ Điều 4 về ca kết chung của hợp đồng, nguyên đơn có lỗi, kh ng tiến hành ua (kh ng ký kết hợp đồng chuy n nhượng quyền sử d ng đất) thì phải ch u ất số tiền đã đặt cọc

[3] Sau ngày 05/10/2023, tuy kh ng ắt uộc nhưng đơn vẫn có thiện chí uốn các ên tiếp t c thực hiện hợp đồng, đơn đã liên hệ Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố TD đ hợp đồng đo đạc ( ặc dù thửa đất chuy n nhượng có ranh giới, ốc giới rõ ràng, có ản vẽ của thửa đất số 832 theo ản trích l c đ a chính ngày 15/11/2021, đơn nhận chuy n nhượng từ ng Nguyễn Anh Tuấn) và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố TD cung cấp thông tin ản trích l c đ a chính ngày 16/11/2023 ản vẽ của thửa đất số 832, tờ ản đồ số 64, diện tích đất 1.765,5 2 kh ng có thay đổi so với giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cấp cho đơn. Tại phần ghi chú của bản trích l c đ a chính có ghi: hồ sơ trích thửa đ chuy n quyền (đủ điều kiện chuy n nhượng) nhưng nguyên đơn vẫn kh ng ký kết hợp đồng chuy n nhượng quyền sử d ng đất với lý do nêu trên là kh ng có cơ s chấp nhận.

[4] Xét thấy nguyên đơn đã vi phạ ca kết của hợp đồng đặt cọc ngày 05/9/2023, có lỗi kh ng ký kết hợp đồng chuy n nhượng quyền sử d ng đất (kh ng tiến hành ua thì phải ch u ất số tiền đã đặt cọc) theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự; khoản 1 M c I Ngh quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩ phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án cấp sơ thẩ cho rằng: đơn kh ng thực hiện việc đo đạc, xác đ nh ranh, cắ ốc đ àn giao đất cho nguyên đơn dẫn đến các ên kh ng thực hiện được hợp đồng, đơn có lỗi và xử chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn là kh ng đúng pháp luật. Cần sửa ản án sơ thẩ . Yêu cầu kháng cáo của đơn là có cơ s chấp nhận, ý kiến của i sát viên là chưa phù hợp. Nguyên đơn phải ch u án phí sơ thẩ theo quy đ nh. B đơn kh ng phải ch u án phí phúc thẩ .

Vì các lẽ trên;

Q YẾT Đ NH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các Điều 147, 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố t ng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 M c I Ngh quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩ phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Căn cứ các Điều: 26, 29 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường v Quốc hội quy đ nh về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Thanh S. Sửa Bản án số 102/2024/DS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một như sau: h ng chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ng Phan Văn H đối với ng Phan Thanh S về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

2. Về án phí:

- Án phí sơ thẩ : Ông Phan Văn H phải nộp 36.300.000 đồng được trừ vào 36.300.000 đồng theo Biên lai thu tạ ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004249 ngày 23/02/2024 của Chi c c Thi hành án dân sự thành phố TD.

- Án phí phúc thẩ : Ông Phan Thanh S kh ng phải ch u. Chi c c Thi hành án dân sự thành phố TD trả lại cho ng S 300.000 đồng theo Biên lai thu tạ ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002368 ngày 15/8/2024.

Trường hợp ản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩ có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ