vanban.org

Bản án 628/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Diễm M: Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Diễm M được ly hôn với ông Nguyễn Minh Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Diễm My-Nguyễn Minh Phương"
  • Tòa quyết gì? vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 628 /2019/HNST
Ngày: 28/6/2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út

Các Hội thẩm nhân dân:

1.

Bà Nguyễn Thị Lương

2.

Ông Nguyễn Xuân Thảo

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân

Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa: Ông

Huỳnh Thanh Thành – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 6 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Tân

Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1172/2018/TLST-HN ngày 11 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐST-HN ngày 20 tháng 5 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 67/2019/QĐST-HNGĐ ngày 7 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Diễm M, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ : Chung cư A, phường B, quận C, Tp.HCM

Bị đơn : Ông Nguyễn Minh P, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ : Chung cư A, phường B, quận C, Tp.HCM

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Lê Thị Diễm M trình bày: Bà M và ông P tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn

nhân, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 201/2014, quyển số 02/2014 ngày 8/10/2014 tại Ủy ban nhân dân phường B, quận C, Tp.HCM.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 03 năm thì phát sinh mâu

thuẫn. Nguyên nhân là do ông P thường xuyên đánh bạc, không quan tâm đến gia đình, vợ con nên tình cảm vợ chồng không còn. Bà M và ông P đã sống ly thân từ ngày 01/5/2018 cho đến nay. Nay, bà M nhận thấy tình cảm dành cho ông P không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Minh P.

Về con chung : Bà M khai có hai con chung tên Nguyễn Bảo M1, sinh ngày 26/12/2014 và Nguyễn Quang M2, sinh ngày 02/2/2018, ly hôn bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà M khai Không có.

Ông Nguyễn Minh P vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa

án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà M.

Tại phiên tòa hôm nay bà Lê Thị Diễm M có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn, ông Nguyễn Minh P vắng mặt không lý do.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận C phát biểu:

- Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật tố

tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, yêu cầu của

nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng

tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Bà Lê Thị Diễm M yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh P, ông Pg có nơi cư

trú tại quận C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 201/2014, quyển số 02/2014

ngày 8/10/2014 do Ủy ban nhân dân phường B, quận C, Tp.HCM cấp thì quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Diễm M và ông Nguyễn Minh P là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật bảo vệ.

Nguyên đơn, bà Lê Thị Diễm M có đơn xin vắng mặt khi Tòa án tiến hành xét

xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà M là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn, ông Nguyễn Minh P đã được Tòa án triệp tập hợp lệ đến lần thứ hai

nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về pháp luật nội dung:

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, lời trình bày của bà M tại các buổi làm việc, hòa

giải, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà M yêu cầu được ly hôn với ông P, vì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông P thường xuyên đánh bạc, không quan tâm, chăm sóc gia đình, con cái. Ông P đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng của Tòa nhưng ông P vẫn không đến Tòa làm việc và trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà M chứng tỏ ông P không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ gia đình. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà M và ông P đã thật sự trầm trọng. Bà M và ông P đã sống ly thân từ ngày 01/5/2018 cho đến nay nên khả năng hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình là không có, mục đích hôn nhân không đạt nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M là có căn cứ.

Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Bảo M1, sinh ngày 26/12/2014 và

Nguyễn Quang M2, sinh ngày 02/2/2018, ly hôn bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Ông P không trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn và yêu cầu nuôi con chung của bà M. Do đó, để đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và sự phát triển của trẻ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của bà M là có căn cứ.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà M khai không có nên Hội đồng xét xử không

xem xét giải quyết.

(4) Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà M phải chịu là 300.000

đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình

năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Diễm M:

-Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Diễm M được ly hôn với ông Nguyễn Minh

P.

- Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Bảo M1, sinh ngày 26/12/2014

và Nguyễn Quang M2, sinh ngày 02/2/2018 cho bà Lê Thị Diễm M trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Minh P do bà Lê Thị Diễm M không yêu cầu.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con

mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở

người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định

pháp luật Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Diễm M khai không có.

2. Về án phí:

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị Diễm M phải nộp 300.000 (ba trăm

ngàn) đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng do bà M đã nộp theo biên lai số 0037502 ngày 4/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự quận C

3. Quyền kháng cáo:

Bà Lê Thị Diễm M, ông Nguyễn Minh P được quyền kháng cáo trong thời hạn

15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền

kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ