- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan"
- Tòa quyết gì? [1] Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Phan Thị C. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 36/2022/HC-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Căn cứ chính? Điều 158 Luật tố tụng hành chính; Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 3 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 627/2023/HC-PT Ngày 31 – 7 – 2023 V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Long
Các Thẩm phán:
Ông Phan Đức Phương
Ông Nguyễn Văn Tửu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Duy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 854/2022/TLPT-HC ngày 7 tháng 12 năm 2022 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 36/2022/HC-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1629/2023/QĐPT-HC ngày 28 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Phan Thị C, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Lệ K, sinh năm 1993; địa chỉ: Tầng trệt, số 2, đường số 7, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện:
Các Luật sư Nguyễn Thị Bích P (có mặt), Lê Thành T (vắng mặt), Nguyễn Thanh N (vắng mặt) và Võ Thị Mỹ H (vắng mặt) – Công ty Luật TNHH PGL Nam Luật; địa chỉ: Tầng trệt, số 2, đường số 7, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân huyện L; địa chỉ: Khu hành chính thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Sỹ B; chức vụ: Chủ tịch;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh A; chức vụ: Phó Chủ tịch (Giấy ủy quyền số 43/GUQ ngày 29-10-2021); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Tạ Xuân T; chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh A; chức vụ: Phó Chủ tịch (Giấy ủy quyền số 43/GUQ ngày 29-10-2021); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ban quản lý chợ L; địa chỉ: Khu phố S, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn T; chức vụ: Trưởng ban; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Phan Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai, lời khai của người khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Bà Phan Thị C là chủ sở hữu của quầy hàng số 130 (số mới) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy số thứ tự 16 do Ban quản lý chợ huyện L cấp ngày 15-12-2010 và sử dụng ổn định từ đó đến nay.
Ngày 13-01-2021, Ủy ban nhân dân huyện L ban hành Quyết định số 194/QĐ-UBND (sau đây viết tắt là Quyết định số 194) về phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ. Theo Quyết định số 194 thì bà Phan Thị C được bồi thường, hỗ trợ tổng số tiền 29.836.000 đồng. Không đồng ý với Quyết định số 194, bà Phan Thị C đã khiếu nại và được giải quyết bằng Quyết định số 2888/QĐ-UBND ngày 02-7-2021 của Chủ tịch UBND huyện L về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị C (lần đầu) (sau đây viết tắt là Quyết định số 2888).
Không đồng ý với Quyết định số 194 và Quyết định số 2888 nêu trên, bà Phan Thị C có đơn khởi kiện vụ án hành chính. Trong quá trình tố tụng, bà Phan Thị C bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy: Một phần Quyết định số 194/QĐ-UBND ngày 13-01-2021 của UBND huyện L về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ đối với phần bồi thường liên quan trực tiếp đến quyền lợi của bà; Quyết định số 2888/QĐ-UBND ngày 02-7-2021 của Chủ tịch UBND huyện L về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị C; Quyết định số 2801/QĐ-UBND ngày 01-7-2021 của UBND huyện L phê duyệt phương án bồi thường bổ sung cho các quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền nằm trong nhà lồng chính của chợ Đ cũ; Quyết định số 4176/QĐ-UBND ngày 09-11-2020 của UBND huyện L về phê duyệt kế hoạch tổ chức bốc thăm tại chợ Đ và kết quả bốc thăm lần 1 ngày 11, 12, 13 tháng 11 năm 2020, lần 2 ngày 20- 9- 2021.
Các lý do mà bà Phan Thị C đưa ra như sau:
Việc UBND huyện L ban hành Quyết định số 194 là không đúng với Quyết định 03/2019 ngày 13-03-2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng (sau đây viết tắt là Quyết định số 03/2019); không xem xét, tính toán đến việc bồi thường về đất; không xem xét, tính toán hỗ trợ đối với vị trí mặt bằng kinh doanh (vị trí thuận lợi); không xem xét, tính toán hỗ trợ giá trị thương mại mặt bằng kinh doanh; cụ thể như sau:
1. Đơn giá làm căn cứ bồi thường thẻ quầy (tài sản trên đất) và hỗ trợ tài sản cơi nới không đúng theo Quyết định số 03/2019.
Theo Quyết định số 03/2019, tại Phụ lục 1 đơn giá xây dựng mới nhà ở riêng lẻ (kết cấu nhà ở không phải nhà biệt thự) thì đơn giá xây dựng mới tại huyện L là: 5.700.205 đồng/m2, chưa tính đến các vật tư khác như tráng nền, lót gạch, dán gạch, làm cửa kéo, cửa cuốn, gắn đèn điện,...Trong khi đó, Quyết định số 194 lại áp mức giá là 4.744.000đ/m2 là không đúng theo Quyết định 03/2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng.
Mặt khác, Bảng giá xây dựng có từ tháng 03-2019, đến năm 2021 mới có quyết định bồi thường mà không tính trượt giá là gây thiệt hại cho người khởi kiện.
Việc cơi nới sửa chữa từ khi quản lý, sử dụng đến nay không bị Ban quản lý chợ hay bất kỳ cơ quan nào lập biên bản, xử phạt hành chính, buộc tháo dỡ, mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại việc cơi nới sửa chữa, do đó phải được xem xét bồi thường hợp lý mới đảm bảo quyền lợi cho người khởi kiện.
2. Không xem xét, tính toán đến việc hỗ trợ, đền bù về đất là không phù hợp với lịch sử hình thành và phát triển chợ Đ cũ cũng như chính sách của Nhà nước và quá trình quản lý, sử dụng của người khởi kiện.
Trước tháng 10-1987, xã Đ thuộc huyện Đức Trọng có 01 chợ tạm khoảng 100 quầy nằm tại trường tiểu học Đ I hiện nay. Sau khi huyện L được thành lập ngày 28-10-1987 (tách ra từ huyện Đức Trọng), xã Đ được đổi thành thị trấn Đ là trung tâm của huyện L.
Năm 1989-1990: Chợ mới xây dựng và được đặt tên là chợ L. Để tạo điều kiện thu hút các hộ di dời vào chợ mới xây dựng kinh doanh ổn định lâu dài, UBND huyện L đã động viên, khuyến khích các hộ mua quầy và cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng không ghi thời hạn.
Năm 1998, UBND huyện thành lập Ban quản lý chợ L, chuyển giao chợ từ UBND thị trấn Đ quản lý cho Ban quản lý chợ L quản lý, đồng thời không tổ chức bán quầy nữa mà giữ nguyên số lượng quầy đã bán.
Năm 2003, Ban quản lý chợ L thực hiện việc cấp đổi GCNQSH quầy hàng không ghi thời hạn. Việc cấp đổi thẻ quầy được áp dụng đối với các hộ nộp đủ tiền mua quầy, các hộ sang nhượng quầy để củng cố hồ sơ.
Như vậy, qua quá trình hình thành, phát triển chợ Đ, quá trình nhận chuyển nhượng, quá trình quản lý, sử dụng cũng như chính sách của Nhà nước và UBND huyện L tại thời điểm người khởi kiện mua quầy thì đều xác định: GCNQSH quầy hàng là một tài sản tương đương với quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:
- Thứ nhất: Thẻ quầy được thế chấp vay vốn ở các ngân hàng thương mại (chủ yếu là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện) như là quyền sử dụng đất.
- Thứ hai: GCNQSH quầy hàng được cấp không thời hạn theo chính sách của UBND huyện L năm 1990 về việc khuyến khích các hộ dân mua điểm kinh doanh để có nơi kinh doanh ổn định, lâu dài. Thời điểm này, đa số người dân di kinh tế mới, đã bỏ ra số tiền rất lớn (giá quầy 2 mặt tiền: 2.500.000 đồng/1 quầy; 1 mặt tiền 2.000.000 đồng/1 quầy), lúc bấy giờ 01 quầy hàng trị giá tương đương với 01 lô đất xung quanh chợ; đồng thời có nghĩa vụ như người sử dụng đất.
- Thứ ba: Khi người dân không có nhu cầu kinh doanh thì được quyền sang nhượng quầy; khi sang nhượng phải ký Hợp đồng có công chứng, phải nộp lệ phí trước bạ (0,5%), thuế TNCN (2%) như đối với quyền sử dụng đất.
Cho đến năm 2013, UBND tỉnh Lâm Đồng mới xây dựng kế hoạch thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý chợ từ Ban quản lý chợ sang mô hình doanh nghiệp quản lý chợ, đồng thời chuyển từ hình thức cấp thẻ quầy không ghi thời hạn sang ký hợp đồng sử dụng điểm kinh doanh có thời hạn. Lúc này mới phát sinh mâu thuẫn giữa Ban Quản lý chợ L với các tiểu thương.
Do đó, việc Ban quản lý chợ L lại cho rằng Giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy không phải là quyền sử dụng đất để né tránh việc bồi thường giá trị đất là không phù hợp với lịch sử hình thành, phát triển chợ cũng như nguồn gốc, quá trình sử dụng theo chính sách của Nhà nước.
3. Quyết định số 194 đã không xem xét tính toán hỗ trợ đối với vị trí mặt bằng kinh doanh (vị trí thuận lợi) sát với thực tế.
4. Quyết định số 194 cũng không xem xét tính toán hỗ trợ giá trị thương mại mặt bằng kinh doanh.
* Theo văn bản của người đại diện của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện L, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L trình bày:
Về nguồn gốc chợ Đ: Trước tháng 10 năm 1987, xã Đ thuộc huyện Đức Trọng có 01 chợ tạm khoảng 100 quầy nằm tại trường Tiểu học Đ I, hiện nay do xã Đ trực tiếp quản lý. Năm 1987 huyện L được thành lập tách ra từ huyện Đức Trọng, xã Đ được đổi thành thị trấn Đ là trung tâm của huyện L.
Năm 1989-1990, UBND huyện L xây dựng chợ đối diện với trường Tiểu học Đ I qua Quốc lộ 27, đặt tên là chợ L. Thời điểm này, UBND huyện đã đầu tư xây dựng 01 nhà lồng chính với tổng số 122 quầy và giao cho Ban Tài chính vật giá huyện (nay là phòng Tài chính- Kế hoạch) trực tiếp quản lý chợ; tham mưu cho UBND huyện tổ chức bán và cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng không ghi thời hạn; Giá bán mỗi quầy từ 2 - 2,5 triệu đồng, tùy theo vị trí (đã bán 85 quầy, còn lại 37 quầy chưa bán).
Khoảng năm 1994- 1995, UBND huyện tiếp tục xây dựng thêm 03 dãy nhà lồng gỗ để bố trí cho các hộ kinh doanh bán quần áo may sẵn, trái cây, ăn uống, thịt heo, bò với tổng số 124 quầy. Đồng thời tiếp tục bán và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng không ghi thời hạn với giá tiền từ 2,5- 3,5 triệu đồng/quầy tùy theo vị trí. Giai đoạn này UBND huyện giao cho UBND thị trấn Đ quản lý chợ.
Theo nội dung ghi trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng thì UBND huyện cho phép các hộ được quyền thế chấp vay vốn ở các ngân hàng thương mại và chuyển nhượng cho người khác khi không còn nhu cầu kinh doanh.
Năm 1998, UBND huyện thành lập Ban quản lý chợ L thuộc UBND huyện, đồng thời chuyển giao chợ cho Ban quản lý chợ L quản lý. Từ năm 1998 trở đi UBND huyện không tổ chức bán quầy, giữ nguyên hiện trạng cho tới nay.
- Theo hồ sơ địa chính:
+ Kiểm tra tờ bản đồ địa chính số 16 thị trấn Đ đo đạc năm 1992 cho thấy: Vị trí đất chợ Đ cũ thuộc thửa số 156, diện tích 7.135 m2, loại đất CD (chuyên dùng) và thửa số 135, diện tích 121 m2, loại đất CD (chuyên dùng).
+ Kiểm tra sổ mục kê của tờ bản đồ địa chính số 16 thị trấn Đ cho thấy:
Thửa số 156, tên chủ sử dụng: Chợ L, diện tích 7.135 m2, loại đất CD (chuyên dùng).
Thửa số 135, tên chủ sử dụng: Chợ L, diện tích 121 m2, loại đất CD (chuyên dùng).
Tại mục loại đối tượng sử dụng đất có thể hiện: UBND thị trấn quản lý 7.256 m2 (tương ứng với tổng diện tích của các thửa đất số 156 và 135).
Như vậy, căn cứ vào hồ sơ địa chính và nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng chợ Đ thì diện tích đất xây dựng chợ Đ là đất công ích thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Từ năm 1989 đến nay, UBND huyện giao cho Ban Tài chính vật giá huyện (nay là phòng Tài chính- Kế hoạch), UBND thị trấn Đ và Ban quản lý chợ L quản lý. Toàn bộ nguồn vốn đầu tư xây dựng chợ Đ cũ do UBND huyện đầu tư xây dựng, sau khi xây dựng chợ hoàn thành, UBND huyện đã tổ chức bán tài sản trên đất (các quầy hàng) cho các hộ thương nhân để thu hồi vốn đầu tư, các hộ kinh doanh mua quầy được UBND huyện cấp thẻ quầy không ghi thời hạn sử dụng; tại Quyết định số 1674/QĐ-UBND ngày 06-11-1997 của UBND tỉnh Lâm Đồng về phê duyệt quy hoạch chung thị trấn Đ xác định chợ Đ cũ là đất chợ thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Các cá nhân được cấp giấy chứng nhận sở hữu quầy hàng đã sử dụng quầy hàng đến nay.
Ngày 17-9-2013, UBND huyện L ban hành Quyết định số 2476/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị mới - Trung tâm thương mại thị trấn Đ, với quy mô dự án cấp công trình cấp 3, số cao tầng là 2 tầng, diện tích xây dựng Trung tân thương mại (chợ) 3.920 m2, trong đó khối kinh doanh 5.550 m2, khối hành chính 405 m2, và 600 điểm kinh doanh.
Ngày 07-6-2016, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 4441/VPCP-KTN về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 22-7-2016, UBND tỉnh Lâm Đồng có Công văn số 4260/UBND-ĐC về việc chấp thuận ranh giới, diện tích đất thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án Khu đô thị mới - Trung tâm thương mại Đ, huyện L.
Ngày 10-9-2019 UBND, huyện L có Công văn số 1026/UBND-TCKH về việc thống nhất chủ trương điều chỉnh, bổ sung một số hạng mục thuộc dự án Khu đô thị mới - Trung tâm thương mại thị trấn Đ.
Ngày 25-10-2019, UBND huyện L ban hành Quyết định số 3791/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh dự án Khu đô thị mới - Trung tâm thương mại thị trấn Đ, huyện L.
Ngày 13-01-2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L ban hành Quyết định 194/QĐ-UBND về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ cho 209 hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng quầy bán hàng tại chợ Đ cũ với tổng số tiền là 5.745.887.000 đồng (Năm tỷ bảy trăm bốn mươi lăm triệu tám trăm tám bảy nghìn đồng), trong đó: Chi phí bồi thường cho các hộ kinh doanh được cấp thẻ quầy bán hàng là: 4.351.240.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi mốt triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng), chi phi hỗ trợ cho các hộ kinh doanh được cấp thẻ quầy bán hàng đối với phần tài sản xây dựng, cơi nới thêm là: 1.394.647.000 đ (Một tỷ ba trăm chín mươi bốn triệu sáu trăm bốn mươi bảy nghìn đồng), phương pháp tính toán bồi thường, hỗ trợ cụ thể như sau:
* Đối với 209 hộ kinh doanh được cấp giấy chứng nhận sở hữu thẻ quầy:
+ Phương án bồi thường, hỗ trợ được phê duyệt chỉ tính toán bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất (giá trị xây dựng các quầy hàng) mà không tính toán bồi thường về đất cho các hộ được cấp thẻ là vì: Toàn bộ nguồn vốn đầu tư xây dựng chợ Đ là do UBND huyện đầu tư xây dựng. Sau khi hoàn thành việc xây dựng chợ, UBND huyện đã bán tài sản trên đất (các quầy bán hàng) cho các hộ tiểu thương (trong đó có bà Phan Thị C) để thu hồi nguồn vốn đã đầu tư. Như vậy, bà Phan Thị C được UBND huyện cấp thẻ quầy bán hàng là chủ sở hữu tài sản hợp pháp quầy bán hàng.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 75, Điều 88 Luật Đất đai năm 2013, việc UBND huyện ban hành Quyết định số 194/QĐ-UBND ngày 13-01-2021 Phê quyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ với nội dung không tính toán bồi thường về đất mà chỉ tính toán bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất (giá trị xây dựng các quầy hàng) cho bà Phan Thị C là phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Phương pháp xác định khối lượng bồi thường: UBND huyện áp dụng phương pháp tính cấu kiện theo quy định hiện hành để xác định giá trị xây dựng các quầy hàng (Thông báo số 142/TB-UBND ngày 03-7-2020 của UBND huyện L).
+ Phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ, UBND huyện đã áp dụng phương pháp tính cấu kiện giá trị tài sản của quầy hàng với đơn giá áp dụng được thực hiện theo Quyết định số 03/2019/QĐ- UBND ngày 13-3-2019 của UBND tỉnh Lâm về Ban hành đơn giá xây dựng mới biệt thự, nhà ở, nhà kính và đơn giá cấu kiện tổng hợp để xác định giá trị tài sản là công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Đơn giá hỗ trợ cho 1 m2 của vị trí kinh doanh sau khi áp dụng là 4.744.000 đồng.
Không đồng ý với Quyết định 194/QĐ-UBND bà Phan Thị C đã gửi đơn khiếu nại. Ngày 02-7-2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L ban hành Quyết định số 2890/QĐ-UBND nội dung không chấp nhận đơn khiếu nại của bà Phan Thị C. Cụ thể như sau:
- Bà Phan Thị C khiếu nại Quyết định số 194/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ với số tiền 4.744.000 đồng/1 m2 là có cơ sở xem xét bởi vì Quyết định 194/QĐ-UBND chưa xem xét tính toán bồi thường hỗ trợ theo vị trí quầy hàng (vị trí thuận lợi) của từng quầy hàng theo giá trị mua thẻ quầy tại giai đoạn 1989-1990 và 1994-1995. Tuy nhiên, ngày 01-7-2021, UBND huyện đã ban hành Quyết định số 2801/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường bổ sung cho các quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền nằm trong nhà lồng chính của chợ Đ cũ.
- Đối với nội dung bà Phan Thị C khiếu nại đơn giá bồi thường tài sản là không có cơ sở xem xét vì : Việc UBND huyện L phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ số tiền 4.774.000 đồng/1m2 cho các hộ tiểu thương là phù hợp với Quyết định số 03/2019/QĐ- UBND ngày 13-3-2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng và Điều 88 Luật đất đai năm 2013: “1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường”. Chợ Đ cũ là đất chợ thuộc quyền quản lý của Nhà nước, do đó, UBND huyện chỉ bồi thường về tài sản trên đất cho các cá nhân có thẻ quầy hợp pháp mà không bồi thường về đất là đúng quy định.
Tuy nhiên, UBND huyện còn xem xét tính toán hỗ trợ, đền bù đến vị trí, mặt bằng kinh doanh (vị trí 2 mặt tiền) của từng quầy hàng theo giá trị mua thẻ quầy giai đoạn 1989-1990 và 1994-1995. Do đó ngày 01-7-2021, UBND huyện ban hành Quyết định số 2801/QĐ-UBND Phê duyệt Phương án bồi thường bổ sung cho các quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền nằm trong nhà lồng chính của Chợ Đ cũ. Phương pháp tính toán bồi thường, hỗ trợ cụ thể như sau: UBND huyện phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung số tiền 4.744.000 đồng/1 m2 x 25% quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền, thực hiện theo quy định tại Quyết định số 03/2019/QĐ-UBND ngày 13-3-2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng. Số tiền được bồi thường bổ sung vị trí 2 mặt tiền là 5.218.400 đồng.
- Nội dung khiếu nại UBND huyện chưa thực hiện đúng quy định tại Quy định ban hành kèm Quyết định số 50/2017/QĐ-UBND ngay 29-12-2017 của UBND tỉnh Lâm Đồng về hỗ trợ đối với tài sản mà các hộ kinh doanh cải tạo, cơi nới là không có cơ sở xem xét, vì: Khi sử dụng các quầy bán hàng, các hộ tiểu thương đã tự ý cải tạo, cơi nới thêm các công trình (cửa quấn, kệ bán hàng, hàng rào, lăp đặt Camera...) để phục vụ cho mục đích kinh doanh, bảo vệ tài sản mà chưa được UBND huyện cho phép. UBND huyện căn cứ vào khoản 1 Điều 13 của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 29-12-2017 của UBND tỉnh Lâm Đồng để xác định hỗ trợ giá trị tài sản các hộ tiểu thương tự cải tạo, cơi nới là phù hợp với quy định. Phương pháp xác định khối lượng: Kiểm kê tài sản, cơi nới của từng hộ kinh doanh. Đơn giá hỗ trợ áp dụng khoản 2 Điều 1 Quyết định số 03/2019/QĐ-UBND ngày 13-3-2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng để xác định giá trị tài sản là công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
- Nội dung khiếu nại việc UBND huyện chưa tính toán hỗ trợ ổn định đời sống cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh có thẻ quầy là không có sở sở xem xét vì: Quyết định 1764/QĐ-UBND ngày 06-11-1997 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc phê duyệt quy hoạch chung thị trấn Đ xác định chợ Đ cũ là đất chợ thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Do đó, phương án bồi thường, hỗ trợ được phê duyệt tại Quyết định 194/QĐ-UBND không tính toán bồi thường về đất. Tại khoản 1, Điều 75 Luật đất đai năm 2013 quy định điều kiện để được nhà nước hỗ trợ ổn định đời sống kinh doanh, UBND huyện không hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất kinh doanh đối với các hộ kinh doanh tại chợ Đ cũ là đúng quy định của pháp luật. Việc ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại là đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, bà Phan Thị C đã được hỗ trợ tiền đối với quầy hàng theo Quyết định 194/QĐ-UB là đúng theo quy định tại Quyết định số 03/2019/QĐ-UBND ngày 13-3-2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng; Điều 88 Luật đất đai năm 2013 và quy định ban hành kèm theo Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 29-12-2017 của UBND tỉnh Lâm Đồng.
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 194/QĐ-UBND ngày 13-01-2021 và Quyết định giải quyết khiếu nại số 2888/QĐ-UBND ngày 02-7-2021 của UBND huyện L được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 29 của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 50/2017/QĐ-UBND ngày 29-12-2017 của UBND tỉnh Lâm Đồng Ban hành Quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng và Luật khiếu nại năm 2011.
Đối với Quyết định 2801/QĐ-UBND:
Năm 1989-1990, UBND huyện L xây dựng chợ L có 01 nhà lồng chính với tổng số 122 quầy. UBND huyện tổ chức bán và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng, trong đó: Quầy có 01 mặt tiền được bán với giá là 2.000.000 đồng/quầy; quầy có 02 mặt tiền được bán với giá là 2.500.000 đồng/quầy. Theo như đơn giá bán các quầy hàng như nêu trên cho thấy tại thời điểm bán quầy hàng UBND huyện đã xác định giá trị chênh lệch giữa quầy hàng có 02 mặt tiền so với quầy hàng có 01 mặt tiền là (2.500.000 đồng- 2.000.000 đồng) : 2.000.000 đồng x 100% = 25%. Từ thực tiễn nêu trên, UBND huyện đã ban hành Quyết định số 2801/QĐ-UBND ngày 01-7-2021 để phê duyệt phương án tính toán bồi thường bổ sung cho 31 hộ thương nhân mua quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền nằm trong nhà lồng chính của chợ Đ cũ. Trong Quyết định số 2801/QĐ-UBND không có tên bà Phan Thị C.
Đối với Quyết định số 4176/QĐ-UBND ngày 09-11-2020 phê duyệt kế hoạch tổ chức bốc thăm tại chợ Đ:
1. Căn cứ pháp lý để UBND huyện ban hành Quyết định số 4176/QĐ UBND
- Chợ Đ (chợ mới) có 449 quầy kinh doanh là chợ hạng 1 theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 3 của Quy định về phát triển và quản lý chợ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng (Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2013/QĐ-UBND ngày 12-9-2013 của UBND tỉnh Lâm Đồng). Chợ Đ được UBND huyện giao cho Ban quản lý chợ L quản lý.
Tại điểm c khoản 5 Điều 8 của Quy định về phát triển và quản lý chợ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng (Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2013/QĐ-UBND ngày 12-9-2013 của UBND tỉnh Lâm Đồng), quy định: Ban quản lý chợ có trách nhiệm lập phương án bố trí, sắp xếp ngành nghề kinh doanh, sử dụng điểm kinh doanh tại chợ gửi Sở Công thương thẩm định, phê duyệt đối với chợ hạng 1 và gửi UBND cấp huyện thẩm định, phê duyệt đối với chợ hạng 2 (chợ Đ cũ). Căn cứ quy định này, Ban quản lý chợ L đã lập phương án bố trí, sắp xếp ngành nghề kinh doanh, sử dụng điểm kinh doanh tại chợ Đ mới, được Sở Công thương thẩm định và UBND tỉnh thống nhất tại Văn bản số 6566/UBND-KT ngày 05-8-2020 V/v phương án bố trí ngành hàng kinh doanh và Nội quy chợ Đ, huyện L. Đến ngày 12-8-2020, Sở Công Thương có Văn bản số 1608/SCT-QLTM V/v phổ biến, công khai Phương án sắp xếp điểm kinh doanh và Nội quy chợ Đ, huyện L, trong đó tại mục 3.3 của Phương án bố trí ngành hàng kinh doanh ban hành kèm theo Văn bản số 1608/SCT-QLTM có thể hiện: “Đối với 436 điểm kinh doanh di dời từ chợ Đ (hiện hữu) sang chợ Đ (mới) tổ chức bốc thăm theo quy định tại Điều 11 Quyết định số 43/2013/QĐ-UBND ngày 12-9-2013 của UBND tỉnh Lâm Đồng. Việc tổ chức bốc thăm do Ban quản lý chợ L thực hiện”.
- Tại Điều 11 của Quy định về phát triển và quản lý chợ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng (Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2013/QĐ-UBND ngày 12-9-2013 của UBND tỉnh Lâm Đồng), quy định về việc đấu giá điểm kinh doanh tại chợ xây dựng lại như sau:
“1. Đối với trường hợp chưa hết hợp đồng, sau khi xây dựng xong, ban quản lý chợ hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã quản lý chợ bố trí, sắp xếp cho thương nhân tiếp tục kinh doanh đến hết hợp đồng. Việc bố trí điểm kinh doanh theo hình thức bốc thăm. Trường hợp cần phải thay đổi vị trí kinh doanh, Ban quản lý chợ hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã quản lý chợ thỏa thuận cụ thể với thương nhân và quyết định theo thẩm quyền.
2. Đối với trường hợp hết hợp đồng, nếu thương nhân có nhu cầu tiếp tục kinh doanh, ban quản lý chợ hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã quản lý chợ yêu cầu thương nhân ký lại hợp đồng theo mức giá đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo phân cấp quản lý chợ (không phải đấu giá). Việc bố trí điểm kinh doanh theo hình thức bốc thăm.
3. Thời gian ký hợp đồng cho thương nhân thuê điểm kinh doanh do Ban quản lý chợ, Doanh nghiệp hoặc Hợp tác xã kinh doanh khai thác và quản lý chợ quy định cụ thể và không vượt quá thời gian ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được cấp có thẩm quyền cấp.
4. Sau khi bố trí hết các thương nhân đã kinh doanh tại chợ cũ có nhu cầu kinh doanh tiếp vào điểm kinh doanh mới, nếu còn thừa điểm kinh doanh, sẽ tiếp tục thực hiện đấu giá, trình tự và nguyên tắc đấu giá như đối với chợ xây mới”.
- Tại khoản 10 Điều 15 của Quy định về phát triển và quản lý chợ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng (Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2013/QĐ-UBND ngày 12-9-2013 của UBND tỉnh Lâm Đồng), quy định trách nhiệm của UBND cấp huyện như sau: “Xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, giải quyết các vướng mắc, khiếu nại theo thẩm quyền liên quan đến hoạt động của chợ trên địa bàn”.
2. Trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 4176/QĐ-UBND
- Ngày 04-11-2020 UBND huyện tổ chức cuộc họp về xây dựng Kế hoạch chi tiết tổ chức bốc thăm điểm kinh doanh tại chợ Đ mới. Trong đó chỉ đạo Ban quản lý chợ L xây dựng kế hoạch chi tiết bốc thăm điểm kinh doanh tại chợ Đ mới, Phòng Kinh tế và Hạ tầng thẩm định và tham mưu UBND huyện ban hành quyết định phê duyệt.
- Ngày 09-11-2020 Ban quản lý chợ L có văn bản số 31/BQLC về việc xây dựng kế hoạch chi tiết tổ chức bốc thăm tại chợ Đ mới (kèm theo Kế hoạch số 30/KH-BQLC ngày 09-11-2020 về kế hoạch chi tiết tổ chức bốc thăm điểm kinh doanh tại chợ Đ mới. Sau khi nhận được văn bản số 31/BQLC của Ban quản lý chợ L, Phòng Kinh tế và Hạ tầng đã thẩm định kế hoạch tổ chức bốc thăm tại chợ Đ và tham mưu ban hành Quyết định 4176/QĐ-UBND phê duyệt kế hoạch bốc thăm chợ Đ.
Đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, UBND huyện L, Chủ tịch UBND huyện L không đồng ý, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ban quản lý chợ L trình bày:
Ban quản lý chợ L thống nhất với lời trình bày của người bị kiện UBND huyện L, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L. Ngoài ra, bổ sung thêm một số nội dung như sau: Trước ngày 22-11-2010, Phòng chuyên môn tham mưu cho UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng (viết tắt là GCNQSHQH) cho các hộ kinh doanh tại chợ Đ mua quầy do UBND huyện L bán quầy. Sau đó, UBND huyện L giao cho Ban quản lý chợ L cấp GCNQSHQH do UBND huyện cấp, các trường hợp mua bán quầy chưa sang tên đổi chủ để củng cố hồ sơ và quản lý. Ban quản lý chợ đã cấp đổi được 98 quầy hàng. Ngày 02-8-2012, UBND huyện L đã có văn bản số 528/UBND chỉ đạo Ban quản lý chợ L không thực hiện việc cấp GCNQSHQH. UBND huyện đã chỉ đạo Ban quản lý chợ L tổ chức họp dân 02 lần nhằm tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Nhà nước về việc xóa bỏ thẻ quầy để chuyển sang ký hợp đồng theo mẫu. Tuy nhiên, tại cuộc họp ở thị trấn Đ do Ban quản lý chợ tổ chức, các hộ dân đã phản ứng gay gắt và không đồng ý chuyển đổi từ thẻ quầy không ghi thời hạn sang hợp đồng có thời hạn. Để ổn định tình hình kinh doanh tại chợ Đ, tránh bức xúc, khiếu kiện đông người; UBND huyện L chỉ đạo Ban quản lý chợ tạm ngừng việc cấp đổi thẻ quầy. Việc cấp GCNQSHQH do UBND huyện L, Ban quản lý chợ L cấp cho các hộ kinh doanh mua quầy không được pháp luật quy định. Do đó, không có quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy cho các hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật
Vụ án đã được tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo thủ tục chung; không tổ chức phiên đối thoại được.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 36/2022/HC-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, quyết định:
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 3; Điều 30; Điều 32; Điều 116; Điều 157; khoản 1, 3 Điều 158; Điều 164; Điều 191; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 348; Điều 358; Điều 206 của Luật tố tụng hành chính;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật tổ Chức chính quyền địa phương năm 2015;
- Căn cứ Luật đất đai 1987; Luật đất đai 1993, sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001; Luật đất đai 2003, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Luật đất đai 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành.
- Căn cứ Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11-11-2011.
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị C về việc yêu cầu hủy: Một phần quyết định số 194/QĐ-UBND ngày 13-01-2021 của UBND huyện L về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ đối với phần bồi thường liên quan trực tiếp đến quyền lợi của bà Phan Thị C; Quyết định số 2888/QĐ-UBND ngày 02-7-2021 của Chủ tịch UBND huyện L về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị C; Quyết định số 2801/QĐ-UBND ngày 01-7-2021 của UBND huyện L phê duyệt phương án bồi thường bổ sung cho các quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền nằm trong nhà lồng chính của chợ Đ cũ; Quyết định số 4176/QĐ-UBND ngày 09-11-2020 của UBND huyện L về phê duyệt kế hoạch tổ chức bốc thăm tại chợ Đ; Quyết định số 4175/QĐ-UBND ngày 09-11-2020 của UBND huyện L về phê duyệt danh sách các tiểu thương đủ điều kiện bốc thăm quầy hàng từ chợ Đ cũ sang chợ Đ mới.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25/8/2022, người khởi kiện bà Phan Thị C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, với lý do bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và không xem xét khách quan, toàn diện, các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định không đúng bản chất của vụ án, dẫn đến việc áp dụng chứng cứ, căn cứ pháp luật không đúng làm xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Lệ K giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngoài ra, bà K còn đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, gồm các thành viên của Hội đồng xét xử, vì cùng một Hội đồng xét xử mà lại xét xử nhiều vụ án liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ là không bảo đảm khách quan.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện có ý kiến như sau:
Về nội dung: Quyết định 194/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của UBND huyện L ban hành không đúng thẩm quyền, không đúng trình tự, thủ tục, không đúng nội dung; Nội dung quyết định 194 chưa xem xét toàn diện, khách quan làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của 209 hộ dân, cụ thể:
+ Quyết định 194 áp đơn giá quầy sai so với Quyết định 03/2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng, theo QĐ 03/2019 thì gia là 5.700.250đ/m2 nhưng UBND huyện L áp mức giá 4.744.000đ/m2 là không đúng, gây thiệt hại cho bà con;
+ Quyết định 194 chưa xem xét giá trị thương mại quầy hàng, vì từ năm 1989 đến nay đã sử dụng ổn định hơn 30 năm, quá trình kinh doanh các hộ dân đã tạo lập nguồn khách hàng lớn, giá trị sang nhượng rất cao, thực tế khi sang nhượng đều có giá từ 300.000.000 - 400.000.000đ/quầy hàng. Giá bồi thường theo Quyết định 194 là gần 20 triệu đồng cho 01 quầy hàng được mua hợp pháp, vĩnh viễn là thấp hơn giá trị các hộ dẫn nếu qua chợ phải thuê lại chỗ kinh doanh 1 năm tại chợ mới.
+ Quyết định 194 chưa xem xét hỗ trợ chi phí tháo lắp, di chuyển hàng hóa, đồ đạc khi thu hồi đất, thiệt hại do việc tháo dỡ, di dời đồ đạc theo Quyết định số 50/2017 của UBND tỉnh Lâm Đồng.
+ Quyết định 194 chưa xem xét hỗ trợ ổn định sản xuất kinh doanh theo Quyết định số 50/2017 của UBND tỉnh Lâm Đồng.
Trong khi chưa có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng (ngày 13/01/2021 mới ban hành quyết định số 194) thì UBND huyện L ban hành Quyết định số 4175/QĐ-UBND ngày 09/11/2020 của Ủy ban nhân dân Huyện L phê duyệt danh sách các tiểu thương đủ điều kiện bốc thăm khi chưa có quyết định phê duyệt phương án bồi thường là quyết định hành chính liên quan nhưng không được cấp sơ thẩm xem xét hủy kế hoạch bốc thăm và hủy các kết quả bốc thăm là các quyết định hành chính có liên quan là chưa đủ cơ sở pháp lý theo quy định.
Về tố tụng: Bản án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng do không xác định đúng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án; không thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ mấu chốt để căn cứ giải quyết vụ án; các tài liệu, chứng cứ sử dụng trong việc giải quyết vụ án là bản photo, không có bản chính đối chiếu, không có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền; sử dụng tài liệu, chứng cứ không có thật để làm căn cứ giải quyết vụ án; mặc dù đã thụ lý yêu cầu khởi kiện nhưng không nhận định và kết luận trong bản án.
Vì thế, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
- Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người khởi kiện đề nghị thay đổi Hội đồng xét xử, nhưng không đúng quy định tại Điều 45, 46 của Luật tố tụng hành chính. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu trên và tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định.
- Về quan điểm giải quyết đối với đơn kháng cáo: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, xét thấy các quyết định bị khởi kiện được ban hành đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị C là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo không cung cấp thêm tình tiết, chứng chứ nào mới chứng minh cho nội dung kháng cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bà C và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Phan Thị C đúng nội dung, hình thức và được nộp trong thời hạn luật định nên là kháng cáo hợp lệ.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 225 của Luật tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[1.3] Đối với yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng tại phiên tòa của đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện. Căn cứ vào Điều 45, Điều 46, khoản 2 Điều 49 của Luật tố tụng hành chính, xét lý do đề nghị nêu trên của người khởi kiện là không có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng của người khởi kiện và tiếp tục xét xử vụ án theo quy định.
Về đối tượng, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính:
Bà Phan Thị C khởi kiện yêu cầu Tòa án:
+ Hủy một phần quyết định số 194/QĐ-UBND ngày 13-01-2021 của UBND huyện L về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ đối với phần bồi thường liên quan trực tiếp đến quyền lợi của bà; hủy Quyết định số 2888/QĐ-UBND ngày 02-7-2021 của Chủ tịch UBND huyện L về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị C;
+ Hủy Quyết định số 2801/QĐ-UBND ngày 01-7-2021 của UBND huyện L phê duyệt phương án bồi thường bổ sung cho các quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền nằm trong nhà lồng chính của chợ Đ cũ; hủy Quyết định số 4176/QĐ-UBND ngày 09-11-2020 của UBND huyện L về phê duyệt kế hoạch tổ chức bốc thăm tại chợ Đ.
Đây là các quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính, nên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xác định còn thời hiệu khởi kiện và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh là đúng theo quy định tại các Điều 30, Điều 32, Điều 116 của Luật tố tụng hành chính.
Đối với yêu cầu hủy kết quả tổ chức bốc thăm điểm kinh doanh tại chợ Đ lần 1 ngày 11, 12, 13-11-2020, lần cuối ngày 20-9-2021 của Ban quản lý chợ Đ. Qua xem xét tài liệu chứng cứ thu thập được, nhận thấy Báo cáo kết quả bốc thăm lần 1 ngày 11, 12, 13-11-2020, lần cuối ngày 20-9-2021 không phải là “Văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”, không đáp ứng điều kiện của “Quyết định hành chính bị kiện” theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng không thụ lý và Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết đối với yêu cầu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Xét tính hợp pháp của Quyết định số 194/QĐ-UBND và Quyết định số 2801/QD-UBND của Ủy ban nhân dân huyện L:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện nguồn gốc chợ Đ là chợ tạm hình thành từ năm 1989-1990. Năm 1994, UBND huyện L xây dựng chợ Đ với 246 điểm kinh doanh và giao cho Ban tài chính vật giá huyện L quản lý. Sau khi xây dựng, UBND huyện L đã bán 209 điểm kinh doanh cho các hộ tiểu thương với giá từ 02- 2,5 triệu đồng/điểm kinh doanh (tùy thuộc vào từng vị trí thuận lợi), còn 37 điểm kinh doanh không bán. Trong 209 điểm kinh doanh các hộ tiểu thương có bà Phan Thị C đã được Ban quản lý chợ L cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy số 130 (số mới) theo giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy số 16 do Ban quản lý chợ L cấp ngày 15-12-2010. Tất cả các giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng không ghi thời hạn và thể hiện các hộ tiểu thương được phép sang nhượng quầy hàng khi không còn nhu cầu sử dụng với sự thống nhất của Ban tài chính huyện.
Tuy nhiên, đến năm 2012 thực hiện theo Văn bản số 5613/UBND-KT về hợp đồng mẫu thuê, sử dụng điểm kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Ban quản lý chợ L đã dừng việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy cho các hộ tiểu thương mà chuyển sang hình thức ký hợp đồng thuê nhưng các hộ tiểu thương không đồng ý. Các giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy được cấp ban đầu vẫn được duy trì sử dụng đến hiện tại.
Theo bản đồ địa chính thị trấn Đ, đo vẽ năm 1992, chợ Đ thuộc thửa số 156, diện tích 7.135 m2 (tờ bản đồ sổ 16), loại đất chuyên dùng.
Theo tờ bản đồ địa chính thị trấn Đ, đo vẽ năm 2004, chợ Đ thuộc thửa số 221, diện tích 6.665,8 m2, thửa số 64, diện tích 1.447,4m2 (tờ bản đồ số 61); thửa số 587, diện tích 100,5m2 (tờ bản đồ số 62), loại đất chuyên dùng.
Tại Sổ mục kê thị trấn Đ được duyệt ngày 30-8-2005, thì các thửa số 221, 64, 587 thể hiện người quản lý, sử dụng là: Chợ L.
Theo Quyết định số 1674/QĐ-UBND ngày 06-11-1997 của UBND tỉnh về việc phê duyệt quy hoạch chung thị trấn Đ, xác định chợ Đ là đất chợ thuộc quyền quản lý của Nhà nước.
Như vậy, căn cứ vào hồ sơ địa chính và nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng chợ Đ thì diện tích đất xây dựng chợ Đ là đất công ích thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Từ năm 1989 đến nay, UBND huyện giao cho Ban Tài chính vật giá huyện (nay là phòng Tài chính- Kế hoạch), UBND thị trấn Đ và Ban quản lý chợ L quản lý. Toàn bộ nguồn vốn đầu tư xây dựng chợ Đ cũ do UBND huyện đầu tư xây dựng, sau khi xây dựng chợ hoàn thành, UBND huyện đã tổ chức bán tài sản trên đất (các quầy hàng) cho các hộ thương nhân để thu hồi vốn đầu tư, các hộ kinh doanh mua quầy được cấp thẻ quầy không ghi thời hạn sử dụng trong đó có bà Phan Thị C. Theo đó, bà Phan Thị C được cấp thẻ quầy bán hàng là chủ sở hữu tài sản hợp pháp của quầy bán hàng, không phải là người được cấp quyền sử dụng đất.
Sau khi được chấp thuận của Văn phòng chính phủ tại Công văn số 4441/VPCP-KTN và Công văn số 4260/UBND-ĐC của UBND tỉnh Lâm Đồng; ngày 17-9-2013, UBND huyện L ban hành Quyết định số 2476/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị mới - Trung tâm thương mại thị trấn Đ; ngày 25-10-2019, UBND huyện L ban hành Quyết định số 3791/QĐ-UBND Về việc phê duyệt điều chỉnh dự án Khu đô thị mới - Trung tâm thương mại thị trấn Đ, huyện L. Ngày 17-9-2013, UBND huyện L ban hành quyết định số 2476/QĐ-UBND phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị mới - Trung tâm thương mại thị trấn Đ, huyện L. Theo đó, diện tích đất xây dựng chợ Đ là đất công do Nhà nước quản lý, thuộc diện phải thu hồi, di dời để thực hiện dự án Khu đô thị mới - Trung tâm thương mại thị trấn Đ (sau này là chợ Đ). Ngày 13-01-2021 UBND huyện L ban hành Quyết định số 194/QĐ-UBND Phê duyệt phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ để bồi thường, hỗ trợ cho các hộ kinh doanh chợ L.
Như vậy, toàn bộ diện tích đất tại chợ Đ là đất công ích thuộc quyền quản lý của Nhà nước, thuộc diện phải thu hồi, di dời để thực hiện dự án Khu đô thị mới - Trung tâm thương mại thị trấn Đ. Vì vậy, UBND huyện L ban hành Quyết định số 194/QĐ-UBND về việc phê duyệt, bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ và Quyết định số 2801/QĐ-UBND là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Xét nội dung bồi thường của Quyết định 194/QĐ-UBND: Như đã phân tích tại phần [3.1], toàn bộ nguồn vốn đầu tư xây dựng chợ Đ cũ do UBND huyện đầu tư xây dựng và UBND huyện đã tổ chức bán tài sản trên đất cho các hộ thương nhân để thu hồi vốn đầu tư và các hộ kinh doanh được cấp thẻ quầy. Các hộ kinh doanh trong đó có bà Phan Thị C không phải là người được cấp quyền sử dụng đất.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 quy định về Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau: “1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp”.
Tại Điều 88 Luật Đất đai năm 2013, quy định: “Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường”.
Bà Phan Thị C không có các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất tại khu vực chợ Đ (Giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy không phải là một trong nhũng giấy tờ về đất đai) nên không đủ điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 75 Luật Đất đai năm 2013. Do vậy, khi triển khai thực hiện Dự án Khu đô thị mới - Trung tâm thương mại thị trấn Đ, UBND huyện L ban hành Quyết định số 194 chỉ tính toán bồi thường về tài sản trên đất (giá trị xây dựng các quầy hàng) theo quy định tại Điều 88, Luật đất đai năm 2013 và không tính toán bồi thường, hỗ trợ về đất là đúng quy định của pháp luật.
Về bồi thường tài sản trên đất: Xét thấy, tháng 5-2020 Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện L đã xây dựng phương án bồi thường các điểm kinh doanh có Giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng bằng 100% giá trị xây dựng mới (cách tính như sau: giá xây dựng 04 nhà lồng mới, chia ra giá trị trên 01 m2, sau đó bồi thường cho các hộ tiểu thương được cấp thẻ quầy). Phương pháp tính toán khối lượng: đối với giá trị xây dựng các quầy hàng: UBND huyện L tính toán giá trị trung bình 01m2 xây dựng chợ bằng cách lấy tổng giá trị xây dựng mới của chợ chia cho tổng diện tích xây dựng, sau đó, lấy diện tích từng quầy hàng nhân với giá trị trung bình 01m2 xây dựng chợ để tính toán bồi thường. Theo chiết tính của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện thì tổng giá trị xây dựng chợ là 5.123.644.323 đồng, tổng diện tích xây dựng là 1.080m2. Như vậy giá trị 01m2 xây dựng là 5.123.644.323 đồng/1.080 m2 = 4.744.000 đồng/ m2.
Đối với phần các hộ tiểu thương đã đầu tư, cơi nới mà không thể di dời (tường, trần, nền, cửa, kệ làm bằng chất liệu gỗ, gạch, xi măng), phần tài sản này do các hộ tiểu thương tự xây dựng, cơi nới nhưng không bị các cơ quan chức năng xử lý về trật tự xây dựng. Do vậy, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện đã xây dựng phương án bồi thường bằng 80% giá trị xây dựng mới theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Quyết định số 50/2017/QĐ-UBND ngày 29-12-2017 của UBND tỉnh quy định về bồi thường, hồ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng: “Các trường hợp nhà, công trình xây dựng được tính hỗ trợ tối đa bằng 80% mức bồi thường, bao gồm: Không có văn bản xử lý, ngăn chặn của cấp có thẩm quyền”.
Như vậy, việc tính toán, bồi thường như trên đã hoàn toàn phù hợp về mức bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Do đó, ngày 13-01-2021, UBND huyện L ban hành Quyết định số 194/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng chợ Đ cho các hộ tiểu thương kinh doanh tại 209 điểm kinh doanh có giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy trong đó bà Phan Thị C được bồi thường, hỗ trợ với số tiền 29.836.000đ gồm tiền hỗ trợ thẻ quầy và tiền bồi thường tài sản là đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, hiện nay Chợ Đ đã được xây dựng mới cách vị trí chợ Đ cũ khoảng 100 m. Đồng thời, bố trí ưu tiên cho các hộ có giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng bốc thăm quầy hàng ở chợ Đ mới nên việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ của UBND huyện L đã đảm bảo quyền lợi của các hộ kinh doanh trong đó có bà Phan Thị C.
Đối với Quyết định số 2801/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Sau khi kiểm tra, xác minh ngày 01-7-2021 Ủy ban nhân dân huyện L đã ban hành Quyết định 2801/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường bổ sung cho các quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền nằm trong nhà lồng chính của chợ Đ cũ là phù hợp, đảm bảo quyền lợi của các hộ kinh doanh có 02 mặt tiền. Như vậy, mọi quyền lợi của bà Phan Thị C đã được UBND huyện L xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật khi thu hồi giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ. Việc bà Phan Thị C khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định 2801/QĐ-UBND là không có cơ sở để xem xét giải quyết.
Xét Quyết định số 2888/QĐ-UBND ngày 02-7-2021 của Chủ tịch UBND huyện L về giải quyết khiếu nại đối với bà Phan Thị C.
Như đã phân tích tại phần [3.1], Quyết định số 194/QĐ-UBND, Quyết định 2801/QĐ-UBND của UBND huyện L được ban hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nên việc bà Phan Thị C khiếu nại Quyết định số 194/QĐ-UBND là không có cơ sở. Do đó, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L ban hành Quyết định số 2888/QĐ-UBND ngày 02-7-2021 giải quyết không chấp nhận khiếu nại của bà Phan Thị C là đúng quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11-11-2011.
Xem xét yêu cầu hủy Quyết định số Quyết định số 4176/QĐ-UBND ngày 09-11-2020 của UBND huyện L về phê duyệt kế hoạch tổ chức bốc thăm tại chợ Đ, Quyết định số 4175/QĐ-UBND ngày 09-11-2020 của UBND huyện L về phê duyệt danh sách các tiểu thương đủ điều kiện bốc thăm quầy hàng từ chợ Đ cũ sang chợ Đ mới:
Quyết định số 4176/QĐ-UBND ngày 09-11-2020 của UBND huyện L về phê duyệt kế hoạch tổ chức bốc thăm tại chợ Đ có nội dung phê duyệt kế hoạch tổ chức bốc thăm tại chợ Đ được áp dụng đối với đối tượng theo Quyết định số 4175/QĐ-UBND ngày 09-11-2020 của UBND huyện L. Các đối tượng này được lập theo danh sách đính kèm Quyết định 4175/QĐ-UBND trong đó có bà Phan Thị C. Xét thấy, trên cơ sở thực hiện Dự án Khu đô thị mới - Trung tâm thương mại thị trấn Đ, UBND huyện L tiến hành lập danh sách các hộ tiểu thương đủ điều kiện bốc thăm quầy hàng từ chợ cũ sang chợ Đ mới. Theo đó, Phòng kinh tế hạ tầng huyện L đã lập báo cáo số 306/BC-KTHT ngày 09-11-2020 báo cáo kết quả thẩm định kế hoạch bốc thăm tại chợ Đ. Trong báo cáo đã thể hiện rõ để đảm bảo quyền lợi cho các hộ kinh doanh khi di chuyển sang chợ Đ mới UBND huyện L quy định những trường hợp hộ kinh doanh có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng, đứng tên trong hợp đồng hoặc có giấy ủy quyền theo quy định và có tên trong danh sách kèm quyết định phê duyệt danh sách các tiểu thương bốc thăm thì mới đủ điều kiện tham gia bốc thăm. Như vậy, UBND huyện L đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các hộ kinh doanh đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng, đứng tên trong hợp đồng hoặc có giấy ủy quyền theo quy định được bốc thăm trong đó bà Phan Thị C đủ điều kiện được bốc thăm quầy hàng trong chợ mới. Do đó, Quyết định số 4176/QĐ-UBND, Quyết định số 4175/QĐ-UBND không làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà Phan Thị C nên không có cơ sở chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện này.
Đối với Quyết định số 4434/QĐ-UBND ngày 07-9-2021 của UBND huyện L về phê duyệt danh sách các tiểu thương đủ điều kiện bốc thăm quầy hàng đợt cuối từ chợ Đ cũ sang chợ Đ mới; Quyết định số 4511/QĐ-UBND ngày 14-9-2021 của UBND huyện L về phê duyệt kế hoạch tổ chức bốc thăm đợt cuối tại chợ Đ. Tuy người khởi kiện không khởi kiện nhưng xét thấy các quyết định này có liên quan đến nội dung yêu cầu khởi kiện nên căn cứ Điều 193 Luật tố tụng hành chính, Tòa án cấp sơ thẩm xem xét tính hợp pháp của các quyết định này là có căn cứ và đảm bảo giải quyết toàn diện vụ án.
Đối với yêu cầu bổ sung người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Đối với yêu cầu đưa UBND tỉnh Lâm Đồng tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: UBND tỉnh Lâm Đồng là cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của người bị kiện UBND huyện L. Theo quy định tại khoản 1 Điều 193 Luật Tố tụng Hành chính: “Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại và văn bản pháp luật có liên quan”. Do đó, không cần thiết phải đưa UBND tỉnh Lâm Đồng tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Đối với yêu cầu đưa Chi cục Thuế huyện L tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Theo nội dung vụ án người khởi kiện khởi kiện đối với quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, quyết định phê duyệt phương án bồi thường bổ sung và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan. Việc cơ quan thuế thu thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ của các hộ tiểu thương khi sang nhượng quầy hàng không ảnh hưởng đến việc xem xét bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng. Trong trường hợp người bị thu thuế/lệ phí cho rằng việc cơ quan thuế thu không đúng thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
Đối với Công ty cổ phần đầu tư và phát triển hạ tầng Nam Hà Nội là đơn vị nhận dự án phân lô bán nền năm 2018, 2019 tại vị trí khu đất thuộc chợ Đ không làm thay đổi nội dung vụ án. Do đó, không cần thiết phải đưa Công ty cổ phần đầu tư và phát triển hạ tầng Nam Hà Nội vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện là đúng pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới để chứng minh cho quan điểm của mình nên đơn kháng cáo không được chấp nhận.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo của người khởi kiện không được chấp nhận, nên người khởi kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và án phí hành chính phúc thẩm theo định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính;
[1] Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Phan Thị C. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 36/2022/HC-ST ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 3; Điều 30; Điều 32; Điều 116; Điều 157; khoản 1, 3 Điều 158; Điều 164; Điều 191; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 348; Điều 358; Điều 206 của Luật tố tụng hành chính;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật tổ Chức chính quyền địa phương năm 2015;
Căn cứ Luật đất đai 1987; Luật đất đai 1993, sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001; Luật đất đai 2003, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Luật đất đai 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành.
Căn cứ Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11-11-2011.
[2] Tuyên xử:
[2.1] Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị C về việc yêu cầu hủy: Một phần quyết định số 194/QĐ-UBND ngày 13-01-2021 của UBND huyện L về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ đối với phần bồi thường liên quan trực tiếp đến quyền lợi của bà Phan Thị C; Quyết định số 2888/QĐ-UBND ngày 02-7-2021 của Chủ tịch UBND huyện L về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị C; Quyết định số 2801/QĐ-UBND ngày 01-7-2021 của UBND huyện L phê duyệt phương án bồi thường bổ sung cho các quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền nằm trong nhà lồng chính của chợ Đ cũ; Quyết định số 4176/QĐ-UBND ngày 09-11-2020 của UBND huyện L về phê duyệt kế hoạch tổ chức bốc thăm tại chợ Đ; Quyết định số 4175/QĐ-UBND ngày 09-11-2020 của UBND huyện L về phê duyệt danh sách các tiểu thương đủ điều kiện bốc thăm quầy hàng từ chợ Đ cũ sang chợ Đ mới.
[2.2] Về án phí:
- Án phí hành chính sơ thẩm: Bà Phan Thị C phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 0008722 ngày 12-10-2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Phan Thị C phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0010681 ngày 26-8-2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
[3] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Cục THADS tỉnh Lâm Đồng; - Người khởi kiện (1); - Người bị kiện (2); - NLQ (1); - Lưu VT (6), HS (2) T.17 (BA 36). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Long |