- Tranh chấp gì? "Vũ Thị Huệ L khởi kiện hành vi hành chính"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Vũ Thị Huệ L.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 243 Luật tố tụng hành chính
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 626/2026/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 5 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Trần Thị Thúy Hồng
Các Thẩm phán:
Ông Lê Hoàng Tấn
Ông Trần Ngọc Tuấn
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Nhàn – Kiểm sát viên.
Tại Quyết định số: 88/2025/QĐST-HC ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã căn cứ khoản 3 Điều 38, các Điều 143, 144 của Luật tố tụng hành chính năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai”, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Vũ Thị Huệ L, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số I Đ, phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh).
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện L (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Đồng Nai).
- Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Người khởi kiện không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 144 của Luật tố tụng hành chính.
Tại đơn kháng cáo ngày 21/10/2025, người khởi kiện bà Vũ Thị Huệ L kháng cáo không đồng ý đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giải quyết vụ án theo quy định.
XÉT THẤY:
Xét đơn kháng cáo của người khởi kiện bà Vũ Thị Huệ L làm trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Xét yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Vũ Thị Huệ L, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 07/10/2011, UBND huyện L ban hành Quyết định số: 4985/QĐ-UBND thu hồi phần diện tích 1.674m2 (BHK +CLN) thuộc các thửa đất số 192, 193 và trọn thửa 194, tờ bản đồ địa chính số 2 của bà Vũ Thị Huệ L để thực hiện Dự án xây dựng công trình Hồ chứa nước chống lũ L tại xã L, huyện L.
Ngày 28/10/2011, UBND huyện L ban hành Quyết định số: 5422/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án cụ thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Xây dựng Hồ chứa nước L tại xã L và xã L (đợt 2). Trong đó, hộ bà Vũ Thị Huệ L được bồi thường với số tiền là 126.380.000 đồng (không có chính sách hỗ trợ đối với hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp).
Ngày 18/11/2011, UBND huyện L đã phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Vũ Thị Huệ L tại Quyết định số: 5837/QĐ-UBND. Ngày 19/12/2011, bà Vũ Thị Huệ L đã nhận tiền bồi thường theo Quyết định phê duyệt nêu trên và đồng ý bàn giao mặt bằng cho Chủ đầu tư triển khai thực hiện dự án.
Sau đó, bà Vũ Thị Huệ L gửi đơn kiến nghị gửi UBND huyện L và UBND xã L xin xem xét, kiểm tra lại thực tế và yêu cầu xác nhận hộ bà Huệ L có trực tiếp sản xuất nông nghiệp tại địa phương.
Thời gian kéo dài đến ngày 10/3/2020, UBND huyện L ban hành Văn bản số: 1935/UBND-KT giao Thanh tra huyện chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan làm việc với UBND xã L làm rõ việc xác nhận hồ sơ bồi thường đối với trường hợp hộ Vũ Thị Huệ L.
Ngày 27/4/2020, Thanh tra huyện L Báo cáo số: 141/BC-Ttr kiến nghị UBND huyện giao Trung tâm Phát triển Quỹ đất căn cứ mẫu số 05 ngày 08/6/2018 của UBND xã L gửi nơi cư trú của bà L, để xác nhận lại theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số: 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ. Sau khi có giấy xác nhận nơi cư trú của bà L, đề nghị Trung tâm Phát triển Quỹ đất chuyển lại hồ sơ cho UBND xã L xác nhận mẫu số 04 theo quy định.
Ngày 12/5/2020, Ủy ban nhân dân huyện L ban hành Văn bản số: 4603/UBND-KT giao Trung tâm Phát triển Quỹ đất chủ trì, phối hợp với UBND xã L và các cơ quan, đơn vị có liên quan, căn cứ ý kiến của Thanh tra huyện tại Báo cáo số 141/BC-TTr ngày 27/4/2020, tham mưu Hội đồng bồi thường của dự án xử lý hỗ trợ chuyển đổi nghề và đào tạo việc làm đối với hộ bà Vũ Thị Huệ L.
Ngày 06/5/2020, Hội đồng bồi thường dự án Hồ chứa nước chống lũ L ban hành Văn bản số 173/CV-HĐBT gửi U, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (nơi cư trú của bà Huệ L) về việc hỗ trợ xác nhận hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ nông nghiệp; xác nhận nhân khẩu, nghề nghiệp đối với hộ ông (bà) Vũ Thị Huệ L.
Ngày 21/5/2020, U, quận P ban hành Văn bản số 78/UBND xác nhận nghề nghiệp, nhân khẩu của bà Vũ Thị Huệ L nhưng chưa xác nhận nội dung hộ bà L có phải là hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ nông nghiệp hay không. Đến ngày 20/7/2020, U, quận P ban hành Văn bản số: 128/UBND xác nhận hộ Vũ Thị Huệ L, cư ngụ tại 9/30 Đ, là hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp.
Từ cơ sở trên, Trung tâm Phát triển Quỹ đất áp giá chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm thông qua Hội đồng bồi thường tại Báo cáo số: 237/BC-TTPTQĐ-TBT ngày 03/9/2020, làm cơ sở trình thẩm định, phê duyệt theo quy định. Theo đó, đề nghị bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Vũ Thị Huệ L với tổng số tiền là 355.540.000 đồng.
Ngày 24/9/2020, UBND huyện L ban hành Thông báo số: 1614/TB-UBND về việc kết luận cuộc họp Hội đồng bồi thường các dự án trên địa bàn huyện ngày 17/9/2020, giao UBND xã L kiểm tra toàn bộ hồ sơ của bà Vũ Thị Huệ L, xác định trường hợp nêu trên có đủ điều kiện để hỗ trợ, tổng hợp báo cáo UBND huyện xem xét. Ngày 17/12/2020, UBND xã L ban hành Báo cáo số 267/BC-UBND xác nhận hộ bà Vũ Thị Huệ L có trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp.
Ngày 29/12/2020, UBND huyện L ban hành Thông báo số: 2703/TB-UBND kết luận cuộc họp Hội đồng bồi thường, theo đó, đối với trường hợp của bà Vũ Thị Huệ L giao Thanh tra huyện chủ trì, phối hợp các ngành liên quan, UBND xã L kiểm tra, rà soát cụ thể nội dung vụ việc, tổng hợp báo cáo UBND huyện xem xét tại cuộc họp Hội đồng bồi thường gần nhất. Ngày 27/01/2021, Thanh tra huyện ban hành Báo cáo số 19/BC-TTr kết quả thực hiện Thông báo số 2703/TB-UBND ngày 29/12/2020 của UBND huyện.
Ngày 12/4/2021, UBND huyện L ban hành Thông báo số: 1159/TB-UBND đối với trường hợp chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho bà Vũ Thị Huệ L thuộc dự án Hồ chứa nước chống lũ tại L theo Báo cáo số 19/BC-TTr ngày 27/01/2021 của Thanh tra huyện. Qua trao đổi, Hội đồng bồi thường đề nghị Trung tâm Phát triển Quỹ đất tổng hợp dự toán, tham mưu UBND huyện báo cáo xin ý kiến UBND tỉnh chỉ đạo về nguồn vốn để thực hiện việc chi trả.
Ngày 19/4/2021, Trung tâm Phát triển Quỹ đất ban hành Báo cáo số: 168/BC-TTPTQĐ về việc bố trí nguồn vốn để chi trả cho hộ dân thuộc dự án Hồ chứa nước chống lũ L, tại xã L. Theo đó, Trung tâm Phát triển Quỹ đất đã tổng hợp đối với dự án Hồ chứa nước chống lũ Lộc An cần phải bố trí nguồn vốn là 415.976.400 đồng (Trong đó, hộ bà Đặng Thị D là 53.325.600 đồng; Hộ bà Vũ Thị Huệ L là 362.650.800 đồng (Ba trăm sáu mươi hai triệu, sáu trăm năm mươi ngàn, tám trăm đồng). Trung tâm Phát triển Quỹ đất kiến nghị UBND huyện báo cáo UBND tỉnh xem xét, bố trí nguồn vốn để chi trả cho các hộ dân.
Ngày 23/6/2021, Ủy ban nhân dân huyện L ban hành Văn bản số: 6576/UBND-KT gửi UBND tỉnh về việc xin ý kiến bố trí nguồn vốn để chi trả cho các hộ dân thuộc dự án Hồ chứa nước chống lũ L, tại xã L, huyện L. Ngày 05/8/2021, UBND tỉnh ban hành Văn bản số 9325/UBND-KTNS về việc xử lý nguồn vốn chi trả bồi thường dự án Hồ chứa nước chống lũ L, tại Xã L, huyện L. Theo đó, UBND tỉnh chỉ đạo: “Do dự án Hồ chứa nước chống lũ L tại xã L, huyện L đã được UBND tỉnh phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành trong năm 2018 (tại Quyết định số 4591/QĐ-UBND ngày 26/12/2018 của UBND tỉnh Đ) nên không thể bố trí vốn chuyển tiếp để tiếp tục thực hiện trong giai đoạn 2021-2025. Để có cơ sở chi trả bổ sung chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, giao Sở Tài chính hướng dẫn UBND huyện L thực hiện quyết toán bổ sung đối với 02 trường hợp phát sinh nêu trên và thực hiện thanh toán từ nguồn vốn bố trí sau quyết toán thuộc kế hoạch đầu tư công hàng năm theo quy định.”
Ngày 11/8/2021, UBND huyện L ban hành Văn bản số: 8730/UBND-KT giao phòng Tài chính - Kế hoạch chủ trì, phối hợp Trung tâm Phát triển Quỹ đất, UBND xã L căn cứ ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh và chủ động tham vấn Sở Tài chính để được hướng dẫn thực hiện. Ngày 14/02/2022, phòng T ban hành Văn bản số: 40/CV-TCKH thể hiện: “Căn cứ Văn bản số 2942/SKHĐT-TĐ ngày 26/7/2021 của Sở Kế hoạch - Đầu tự dự án Hồ chứa nước chống lũ L, huyện L đã được UBND tỉnh phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành từ năm 2018, nên không bố trí vốn chuyển tiếp thực hiện trong giai đoạn 2021-2020. Đồng thời, việc nguồn vốn phát sinh tiền bồi thường như trên, qua rà soát ngân sách cấp huyện hiện nay chưa cân đối được nguồn vốn để bố trí cho dự án. Phòng Tài chính - Kế hoạch kiến nghị UBND huyện báo cáo UBND tỉnh, Sở Tài chính hướng dẫn quyết toán bổ sung dự án trên và kiến nghị Sở Kế hoạch - Đầu tư xem xét tham mưu UBND tỉnh bố trí phần vốn bồi thường phát sinh cho huyện L thực hiện hoàn thành dự án”.
Do UBND huyện L chưa thực hiện việc bồi thường bổ sung cho bà Vũ Thị Huệ L nên bà L tiếp tục gửi đơn khiếu nại ngày 25/02/2022 và ngày 07/4/2022 khiếu nại ông Nguyễn Thái B - Viên chức Trung tâm Phát triển Quỹ đất trong công tác tham mưu thực hiện việc bồi thường hỗ trợ 1,5 lần đối với hồ sơ của bà thuộc dự án Hồ chứa nước L đã cố tình trì hoãn, kéo dài việc thực hiện hồ sơ từ năm 2015 đến năm 2020, sau đó dù được chuyển tiếp qua nhân viên khác nhưng hồ sơ vẫn không thể hoàn thành được cho đến nay là 2022, gây thiệt hại về sức khỏe, thời gian và tiền bạc của bà, ước tính giá trị ít nhất là 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng, trong đó tiền hỗ trợ dự tính là 362.650.800 đồng, số tiền còn lại là bồi thường thiệt hại thời gian và chi phí đi lại trong 7 năm qua.
Ngày 05/8/2022, Giám đốc trung tâm phát triển quỹ đất huyện L ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số: 53/QĐ-TTPTQĐ không công nhận nội dung đơn khiếu nại của bà L. Không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại. Nên bà L gửi đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện L.
Tại biên bản đối thoại ngày 02/11/2022 của UBND huyện L để giải quyết đơn khiếu nại của bà Vũ Thị Huệ L có nội dung: “Công nhận nội dung khiếu nại của bà L yêu cầu hỗ trợ 1,5 lần. Giao phòng Tài chính – Kế hoạch làm tham mưu UBND huyện có văn bản trình UBND tỉnh xem xét bố trí nguồn vốn để sớm hỗ trợ cho hộ dân. Đối với nội dung khiếu nại của bà L yêu cầu bồi thường thiệt hại, chi phí số tiền 44.460.000 đồng là không có cơ sở để bồi thường”. Tuy nhiên, đến ngày 07/11/2022 Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số: 9439/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại (lần 2) bác đơn khiếu nại của bà L. Công nhận Quyết định giải quyết khiếu nại số 53/QĐ-TTPTQĐ ngày 05/8/2022 của Giám đốc trung tâm phát triển quỹ đất huyện L là chưa phù hợp với kết quả đối thoại ngày 02/11/2022.
Như vậy, căn cứ vào quá trình xem xét, giải quyết khiếu nại của bà Vũ Thị Huệ L có cơ sở xác định sau khi nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án Hồ chứa nước chống lũ Lộc An tại xã L, huyện L, bà L có khiếu nại yêu cầu được xem xét bồi thường, hỗ trợ thêm do bà L là hộ trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật. Việc khiếu nại của bà L từ năm 2015 kéo dài đến ngày 07/11/2022 Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số: 9439/QĐ-UBND sau đó UBND huyện L giải quyết khiếu nại (lần 2) là chưa phù hợp như đã viện dẫn trên.
Xét thấy, sau khi nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, ngày 10/11/2023 bà L khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố hành vi của UBND huyện L không thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ thêm cho bà L (là hộ trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp) bị thu hồi đất để thực hiện dự án Hồ chứa nước chống lũ L, huyện L là trái pháp luật; bà L yêu cầu buộc UBND huyện L phải thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ thêm cho bà L (là hộ trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp) theo quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 3 Điều 3 và Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Toà án cấp sơ thẩm căn cứ điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính do thời hiệu khởi kiện đã hết là chưa đúng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của hộ bà Vũ Thị Huệ L.
Do đó, chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị Huệ L, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số: 88/2025/QĐST-HC ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để tiếp tục giải quyết vụ án.
Quan điểm của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà L, giữ nguyên quyết định đình chỉ vụ án hành chính là chưa phù hợp với nhận định trên.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà L kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 34 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào điểm c khoản 5 Điều 243 của Luật tố tụng hành chính;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Vũ Thị Huệ L.
- Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số: 88/2025/QĐST-HC ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để tiếp tục giải quyết vụ án.
2. Bà Vũ Thị Huệ L không phải nộp án phí hành chính phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Vũ Thị Huệ L số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005466 ngày 27/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
| TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) |