- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị T - Đặng Chí K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Hoàng Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ___________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 626/2019/HNGĐ-ST Ngày: 06/11/2019. V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Diệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Công Quan.
2. Ông Trần Nghiệp Hồng.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Vũ – Thư ký Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên toà: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 06 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai Vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 305/2019/TLST – HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2019/QĐST-HNGĐ ngày 17 ngày 9 tháng 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2019 giữa:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1981; HKTT: xóm D, xã Đ, huyện L, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: đường Q, khu phố B, phường Đ, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).
Bị đơn: Ông Đặng Chí K, sinh năm 1989; Địa chỉ: đường H, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bà Hoàng Thị T và ông Đặng Chí K chung sống với nhau từ năm 2009. Vợ chồng chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43/2012, quyển số 01 do Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Nghệ An cấp ngày 04/10/2012. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có một con chung là Đặng Hoàng Hải Y (nữ, sinh ngày 14/02/2010).
* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 02/5/2019, bản tự khai, biên bản hòa giải, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Hoàng Thị T – trình bày:
Trong suốt quá trình chung sống, bà T và ông K thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, chủ yếu về tình cảm và quan điểm sống. Hai vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi về mọi mặt trong cuộc sống vì ông K không chịu chí thú làm án, không quan tâm chăm sóc con cái, hay đi chơi về khuya, hay mắng chửi bà T, … Từ đó, bà T bị tổn thương về mặt tinh thần và tình cảm. Tháng 5/2019, bà T cùng với con gái đã chuyển ra khỏi nhà ông K đến nơi khác sinh sống và ly thân với ông K từ thời gian đó đến nay.
Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng giữa bà và ông K không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, không thể hàn gắn với nhau được nên bà T yêu cầu Tòa án cho bà ly hôn với ông K để hai bên không còn bị ràng buộc về mặt pháp lý, ổn định cuộc sống để chăm sóc, nuôi dạy con chung.
Về con chung: Bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đặng Hoàng Hải Yên, không yêu cầu ông K thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn: Ông Đặng Chí K đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để Toà án lấy lời khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông K đều vắng mặt nên Tòa án không thể lấy lời khai, ý kiến và yêu cầu của ông K được. Ông K cũng không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn – bà Hoàng Thị T – trình bày: bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu.
- Bị đơn – ông Đặng Chí K – vắng mặt tại phiên tòa.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thẩm phán chưa đảm bảo thời hạn tống đạt thông báo thụ lý cho bị đơn.
- Về nội dung vụ án:
+ Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hoàng Thị T.
+ Về con chung: Giao trẻ Đặng Hoàng Hải Y cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Hoàng Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đặng Chí K, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Theo khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn”. Căn cứ kết quả cung cấp thông tin của Công an Phường 1, Quận 11: “Ông Đặng Chí K, sinh năm: 1989 có HKTT và thực tế cư trú tại địa chỉ đường H, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh”, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 11 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông K đã được Tòa án tống đạt xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông K.
Ngoài các tài liệu, chứng cứ đã được công khai tại Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 04/9/2019 thì các đương sự không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà T và ông K chung sống có đăng ký kết hôn nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày của bà T: Cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông K không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do quan điểm sống không phù hợp, ông K không chí thú làm ăn, không chăm lo cho gia đình, làm tổn thương tinh thần và tình cảm của bà. Bà T cùng con gái đã chuyển nơi sinh sống khác từ đầu tháng 5/2019 đến nay. Hiện nay, bà T xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông K nên yêu cầu được ly hôn với ông K.
Tòa án nhân dân Quận 11 đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập ông K đến trụ sở Tòa án để lấy lời khai, hòa giải cho hai bên đương sự theo quy định của pháp luật nhưng ông K không đến cho thấy ông K không có thiện chí duy trì quan hệ hôn nhân với bà T.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông K lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc kéo dài quan hệ hôn nhân này không còn ý nghĩa và không mang lại hạnh phúc cho hai bên.
Do việc bà T yêu cầu ly hôn với ông K là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung:
Căn cứ kết quả cung cấp thông tin của Công an Phường 1, Quận 11: “Con chung bé Đặng Hoàng Hải Y, sinh năm 2010 hiện đang sống chung với bà Hoàng Thị T tại địa chỉ 216 đường Hồng Hà, Phường 9, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Căn cứ Giấy đề nghị xác nhận tạm trú ngày 12/7/2019 xác nhận “bà Hoàng Thị T sinh năm 1981 gồm 02 khẩu thực tế cư trú tại số 239/4 đường Lê Văn Quới, khu phố 2, phường Bình Trị Đông, Quận Bình Tân”.
Căn cứ Giấy xác nhận lương ngày 27/6/2019 xác nhận bà Hoàng Thị T đang làm việc tại Công ty Cổ phần Lady Care Việt Nam từ ngày 01/7/2016 đến nay và có thu nhập 7.000.000 đồng/tháng.
Căn cứ Biên bản lấy lời khai của trẻ tại Tòa án nhân dân Quận 11, trẻ Đặng Hoàng Hải Y, sinh năm 2010 nêu nguyện vọng khi cha mẹ ly hôn thì muốn được sống với mẹ vì mẹ là người trực tiếp quan tâm, chăm sóc và nuôi dưỡng em.
Ông Đặng Chí K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến phản hồi về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy, trẻ Đặng Hoàng Hải Y hiện đang sống với mẹ, cuộc sống ổn định. Bà T là người có chỗ ở, việc làm và có thu nhập, có khả năng đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Về cấp dưỡng nuôi con: bà T tự nguyện không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Sự tự nguyện này không vi phạm pháp luật và đạo đức nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung:
Bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến phản hồi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết đối với tài sản chung và nợ chung trong vụ án này.
Về án phí:
Bà T chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Hoàng Thị T.
- Bà Hoàng Thị T được ly hôn với ông Đặng Chí K. Giấy chứng nhận kết hôn số 43/2012, quyển số 01 do Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Nghệ An cấp ngày 04/10/2012 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao con chung là Đặng Hoàng Hải Y (nữ, sinh ngày 14/02/2010) cho bà Hoàng Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Hoàng Thị T không yêu cầu ông Đặng Chí K thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông Đặng Chí K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà Hoàng Thị T chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0010125 ngày 13/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11. Bà T đã nộp đủ án phí.
Các quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Quận 11; - UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Phạm Thị Ngọc Diệp |