- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Bích A
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 626/2019/HNGĐ -ST Ngày: 11/11/2019 V/v: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tài.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Trung Trực
2. Ông: Trương Hoàng Hoa
- Thư ký phiên tòa: ông Đỗ Thanh Phong Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Tuyết Hằng Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 404/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2019 về việc tranh chấp “ xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 151/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phan Thị Bích A, sinh năm 1974
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện Chợ Gạo, Tiền Giang
- Bị đơn: Ngô Hồng B, sinh năm 1968
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện Chợ Gạo, Tiền Giang
(chị A có mặt, anh B vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn Phan Thị Bích A trình bày: Qua quen biết, tìm hiểu, chị và anh B tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức cưới vào 1999 nhưng đến ngày 29/8/2003 mới đăng ký kết hôn và được UBND xã N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 142. Sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc cho đến khoảng năm 2019 giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau do anh B thường uống rượu về đánh chị làm cho cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không được nên anh, chị đã ly thân từ ngày 16/5/2019 cho đến nay. Nay chị nhận thấy đời sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh B.
Về con chung: anh, chị có 02 con chung tên: Ngô Thị Hồng C, sinh ngày 14/01/2000 và Ngô Hồng D, sinh ngày 14/11/2009, hiện đang sống với chị A. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi Ngô Hồng D, còn Ngô Thị Hồng C đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: vợ chồng chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn Ngô Hồng B vắng mặt, mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai cứng cứ và hòa giải, phiên tòa sơ thẩm nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn, nuôi con của chị A.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, ý kiến phát biểu của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: bị đơn Ngô Hồng B đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với anh B.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh B và chị A tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức cưới vào năm 1999. Ngày 29/8/2003 đăng ký kết hôn và được UBND xã N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 142 nên quan hệ hôn nhân giữa anh, chị được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Chị A xin ly hôn với anh B, anh B cư trú tại ấp M, xã N, huyện Chợ Gạo, Tiền Giang căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là "tranh chấp xin ly hôn", vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo và được xem xét giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị A, Hội đồng xét xử nhận thấy: Mâu thuẫn ban đầu giữa vợ chồng chị A và anh B không lớn nhưng anh chị không tự khắc phục được để kéo dài làm ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên anh, chị đã ly thân từ ngày 16/5/2019 cho đến nay và không có giải pháp nào hàn gắn tình cảm. Tòa án nhiều lần triệu tập anh B đến để trình bày ý kiến về việc chị A xin ly hôn, dự hòa giải và dự phiên tòa nhưng anh không đến, điều này thể hiện anh B không còn thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh B đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và thời gian ly thân dài nên yêu cầu xin ly hôn của chị A phù hợp với Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vì thế được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị A và anh B có 02 con chung tên Ngô Thị Hồng C, sinh ngày 14/01/2000 và Ngô Hồng D, sinh ngày 14/11/2009, hiện đang sống với chị A. Ly hôn, chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi Ngô Hồng D còn Ngô Thị Hồng C đã trưởng thành. Chị A không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Anh B vắng mặt không có ý kiến về việc nuôi con chung. Xét thấy, cháu C đã trưởng thành, cháu D hiện đang sống cùng chị A, chị A yêu cầu tiếp tục nuôi cháu D. Do đó, để đảm bảo cho cháu D có cuộc sống ổn định phát triển toàn diện về mọi mặt, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho chị A được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu D là phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của cháu D. Chị A không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
Về tài sản chung, nợ chung: Do anh B vắng mặt, chị A trình bày chị và anh B có tài sản chung nhưng chị không yêu cầu giải quyết và giữa anh, chị không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này các bên có tranh chấp sẽ giải quyết ở vụ án khác.
Về án phí sơ thẩm: Chị A phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[7] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật tố tụng dân sự; đối với yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. Đề nghị này phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Bích A
1. Về hôn nhân: Chị Phan Thị Bích A được ly hôn với anh Ngô Hồng B
2. Về con chung:
Chị Phan Thị Bích A được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Ngô Hồng D, sinh ngày 14/11/2009;
Chị Phan Thị Bích A không yêu cầu anh Ngô Hồng B cấp dưỡng nuôi con.
Anh Ngô Hồng B được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí sơ thẩm:
Chị Phan Thị Bích A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0002781 ngày 16/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo. Như vậy, chị A đã nộp xong án phí.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị A có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng anh B tính từ ngày được Tòa án tống đạt Bản án hợp lệ.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Chợ Gạo; - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo; - UBND xã N; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Văn Tài |