- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang M - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt; Điều 46 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 104 Bộ luật hình sự Xử phạt
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! ! ! Bản án số: 626/2017/HSPT Ngày: 05/12/2017 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:!
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Vũ Thanh Lâm"
Các"Thẩm"phán:
1. Ông Nguyễn Tuấn Anh
2. Ông Phan Văn Liệt
Thư"ký"tòa"án"ghi"biên"bản"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Cán bộ
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Tp"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"phiên"tòa:
Bà Nguyễn Thị Diễm Khanh - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 05 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành
phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý 567/2017/HSPT,
ngày 12/10/2017 đối với bị cáo Trần Quang M do có kháng cáo của bị cáo
đối với bản án hình sự số 173/2017/HSST ngày 05/9/2017 của Tòa án nhân
dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần! Quang! M; Giới tính: Nam; Sinh năm 1992; Tại: tỉnh A’; Nơi
ĐKHKTT: Ấp B’, xã B”, huyện B1, tỉnh A’; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ
văn hoá: 10/12; Con ông Trần Văn V và bà Ngô Thị M’; Hoàn cảnh gia đình:
Có vợ chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người!bào!chữa: Luật sư Trần Hữu K – Văn phòng Luật sư A” – Đoàn
Luật sư tỉnh T bào chữa cho bị cáo Trần Quang M (có mặt)
Những!người!tham!gia!tố!tụng!khác:!!
Người bị hại: Ông Vũ Ngọc Kh, sinh năm 1966 (vắng mặt).
Thường trú: Xóm C, xã C’, huyện C”, tỉnh C1.
Tạm trú: 368/42/24 đường N, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Minh H, sinh năm
1969 (có mặt).
Thường trú: 33B/2 Khu vực a, thị trấn B1, huyện B1, tỉnh A’.
NHẬN!THẤY!
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận A và bản án sơ
thẩm của Tòa án nhân dân Quận A thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 50 phút ngày 10/6/2015, ông Vũ Ngọc Kh điều
khiển xe ô tô biển số 51C-554XX trên đường Quốc lộ 1A hướng từ ngã tư G về cầu vượt S, khi đến trước công ty ô tô L thuộc tổ 3, Khu phố b, phường X, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì xảy ra va chạm với xe ô tô biển số 51C – 289.YY do ông Trần Minh H điều khiển cùng chiều. Sau đó ông Trần Minh H và ông Vũ Ngọc Kh đã xảy ra cãi nhau, ông Trần Minh H nhảy lên cabin xe ô tô của ông Vũ Ngọc Kh dùng tay đánh vào mặt ông Kh một cái rồi bỏ về xe của mình tiếp tục điều khiển. Lúc này bị đánh nên ông Vũ Ngọc Kh nhảy xuống đường cầm theo một ống tuýp sắt đuổi theo dùng tuýp sắt đập vào kính bên hông trái xe của ông Trần Minh H. Ông Trần Minh H mở cabin xe nhảy xuống thì bị ông Vũ Ngọc Kh dùng tuýp sắt đánh một cái vào đầu chảy máu. Ông Trần Minh H dùng tay ôm ông Vũ Ngọc Kh thì lúc này bị cáo Trần Quang M là phụ xe của ông Trần Minh H giật tuýp sắt trên tay của ông Vũ Ngọc Kh đánh một cái vào vai trái của ông Vũ Ngọc Kh gây thương tích. Khi bị bị cáo Trần Quang M đánh, ông Vũ Ngọc Kh hoảng sợ bỏ chạy thì ông Trần Minh H lên xe của ông Vũ Ngọc Kh điều khiển, còn bị cáo Trần Quang M lên xe ông Trần Minh Hiệp điều khiển cùng về Công an thị trấn B1, tỉnh A’ đầu thú và giao nộp hai ô tô nói trên.
Tại bản kết luận pháp y về thương tích số 518/Tg.T.15 ngày 01/7/2015
của Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh: Tỷ lệ thương tật đối với ông Vũ Ngọc Kh là 13%.
Tại bản kết luận pháp y về thương tích số 518B/Tg.T.15 ngày
14/9/2015 của Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh: Tỷ lệ thương tật đối với ông Vũ Ngọc Kh hiện tại dưới vùng mắt trái có tỷ lệ là 02% do ông Trần Minh H gây ra, tại vùng vai trái có tỷ lệ thương tật là 11% do bị cáo Trần Quang M gây ra.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận A, Thành phố Hồ Chí
Minh, bị cáo Trần Quang M khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 173/2017/HSST ngày 05/9/2017 của Tòa
án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Quang M phạm tội: “Cố ý gây thương tích” .
Áp dụng khoản 2 Điều 104; các điểm b,o,p khoản 1, khoản 2 Điều 46;
Điều 47 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Trần Quang M: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời
hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và thời hạn
kháng cáo.
Ngày 15/9/2017, bị cáo Trần Quang M có đơn kháng cáo xin xem xét
giảm cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa trong phần xét hỏi ngày 22/11/2017 ông Vũ Ngọc Kh cho
rằng không có việc ông đuổi đánh ông H và đập bể kính xe ông H nhưng ông
thừa nhận cây tuýp sắt là của ông. Ông đề nghị Tòa xem xét xử lý theo quy
định của pháp luật, đối với hành vi của bị cáo Trần Quang M ông không có
thắc mắc, khiếu nại gì và đề nghị xem xét vì bị cáo đã bồi thường cho ông.
Tại phiên tòa hôm nay ông Vũ Ngọc Kh vắng mặt, ông Trần Minh H
trình bày do ông Vũ Ngọc Kh lùi xe làm móp xe ông khi ông đang dừng xe
phía sau nên ông có xuống yêu cầu ông Kh bồi thường thì ông Kh không chịu
nên ông bực tức có đánh ông Kh một cái rồi đi về xe của mình. Sau khi ông
về xe thì ông Kh đã cấm tuýp sắt sang xe của ông và dùng tuýp sắt đập bể
kính xe và đập vào đầu ông gây thương tích và sau đó ông ôm ông Kh lại, sự
việc M đánh ông Kh thế nào ông không biết vì lúc này ông bị ông Kh đánh bể
đầu, máu chảy vào mắt nên không nhìn được ông Kh bị đánh. Quá trình điều
tra trước đó nghĩ việc hai bên xô xát đã bồi thường xong nên ông mới làm đơn
bãi nại không yêu cầu xử lý đối với việc ông Kh đánh bể đầu ông. Việc ông
điều khiển xe của ông Kh về công an thị trấn B1, huyện B1, tỉnh A’ là do ông
Kh đập bể kiếng xe và làm móp đầu xe của ông mà chưa giải quyết bồi
thường nên ông đem xe về giao công an để xử lý chứ ông hoàn toàn không có
ý định chiếm đoạt xe của ông Kh. Việc ông và ông Kh viết đơn bãi nại không
yêu cầu khởi tố là hoàn toàn tự nguyện tại trụ sở Công an.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân
tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng
tội, mức hình phạt là thỏa đáng. Tại phiên tòa bị cáo cung cấp thêm giấy đăng
ký kết hôn của bị cáo nhưng xét đây không phải là tình tiết giảm nhẹ mới nên
đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
Luật sư Trần Hữu K trình bày: Trong vụ án này cần xem xét nguyên
nhân xảy ra vụ việc có một phần lỗi của người bị hại, do bênh vực, bảo vệ
chủ là ông Trần Minh H mà phạm tội; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị
cáo có cha mẹ già và mới lấy vợ, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết
giảm nhẹ, đã bồi thường cho người bị hại và có đầy đủ điều kiện hưởng án treo theo Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Luật sư yêu cầu xem xét nguyên
nhân xảy ra vụ việc có lỗi của người bị hại tuy nhiên trường hợp này người bị hại không có lỗi, mâu thuẫn xảy ra giữa người bị hại và ông H không liên quan đến bị cáo, bị hại không có hành vi gì đối với bị cáo nên không thể xem là lỗi của người bị hại.
Luật sư bảo lưu quan điểm bào chữa.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
XÉT!THẤY!
Nguyên nhân xảy ra vụ án là do có sự va quẹt xe, theo ông Trần Minh H
việc va chạm xe là do ông Kh lùi xe làm móp xe của ông nhưng không đồng ý bồi thường, ông Kh thì cho rằng không có sự việc như ông H trình bày. Tuy nhiên căn cứ vào Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu (bút lục 20) ghi nhận tình trạng xe của ông Trần Minh H được lập tại Công an thị trấn B1, huyện B1, tỉnh A’ thì xe của ông H bị móp phần đầu xe, bể kính bên trái… từ đó có sự mâu thuẫn xô xát giữa hai bên và ông Trần Minh H có đánh ông Vũ Ngọc Kh gây thương tích qua giám định có tỷ lệ là 02%;!Ông Kh dùng tuýp sắt đập vỡ kính xe và đánh vào đầu ông H khâu 06 mũi. Khi ông Trần Minh H ôm được ông Vũ Ngọc Kh, ngay lúc này do bênh vực chủ của mình là ông Trần Minh H, bị cáo Trần Quang M giật cây sắt trong tay ông Kh đánh vào vai ông Kh một cái qua giám định thương tích là 11%. Như vậy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp gây thương tích cho người bị hại 11% và dùng hung khí nguy hiểm nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Quang M về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự"là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại, sau khi gây án đã ra tự thú, nhân thân bị cáo tốt để áp dụng các điểm b,o,p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù. Tuy nhiên cấp phúc thẩm xét thấy cần xem xét thêm tại phiên tòa trong phần xét hỏi ngày 22/11/2017 người bị hại là ông Vũ Ngọc Kh đã có lời trình bày bãi nại cho bị cáo; Trong nguyên nhân xảy ra vụ án cũng cần xem xét bị cáo nhất thời phạm tội xuất phát từ việc do bênh vực chủ khi bị người khác tấn công và nguyên nhân xảy ra vụ án cũng có một
phần lỗi phát sinh từ người bị hại; Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không
có tình tiết tăng nặng, đã bồi thường cho người bị hại, bị hại không có yêu cầu
gì thêm và bị cáo không thuộc trường hợp cấm cho hưởng án treo theo Nghị
quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về án treo
nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo; Sửa
bản án sơ thẩm; Giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo
cũng đảm bảo tác dụng giáo dục, phòng ngừa. Tuy nhiên, trường hợp này cấp
sơ thẩm áp dụng điểm o, khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự với tình tiết người
phạm tội tự thú là chưa chính xác, trường hợp này phải xác định là bị cáo đầu
thú nên cấp phúc thẩm sửa lại tình tiết giảm nhẹ cho đúng quy định pháp luật.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì"các"lẽ"trên,"
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 248; điểm đ khoản 1 Điều 249 Bộ luật
tố tụng hình sự.
!
QUYẾT!ĐỊNH!
!
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quang M; Sửa bản án sơ thẩm;
Giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
Tuyên bố bị cáo Trần Quang M phạm tội: “Cố ý gây thương tích” .
Áp dụng khoản 2 Điều 104; các điểm b,p khoản 1, khoản 2 Điều 46;
Điều 47; Điều 60 của Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Trần Quang M: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng
cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên
án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho chính quyền địa phương là Ủy ban nhân dân xã B”,
huyện B1, tỉnh A’ để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án
treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 Luật thi
hành án hình sự.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Đã giải thích chế định án treo. Nơi!nhận:!! !
!!!!!!!
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!
- TAND TC;
(1) !THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TOẠ!PHIÊN!TOÀ!!
- TAND Cấp cao tại Tp. HCM
(1)
- VKSND TP. HCM;
(3)
- VKSND cấp cao tại Tp. HCM;
(1)
- VKSND Quận A;
(1)
- P. PC 53 - CATP;
(1)
- Bị cáo;
(1)
- Luật sư;
(1)
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Vũ!Thanh!Lâm!
- Đương sự;
(2)
- Chi Cục THA Quận A;
(1)
- TAND Quận A;
(2)
- Công an quận A;
(1)
- Sở Tư pháp;
(1)
- UBND nơi bị cáo cư trú;
(1)
- Lưu: THS, hồ sơ, VT (24).
(6)