- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Bùi Trúc A và Huỳnh Văn S"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Trúc A:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 625/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12 – 7 - 2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh
2. Ông Trần Ngọc Oanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 118/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 510/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 509/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Trúc A, sinh năm 1988; HKTT và ngụ tại: 114/25 đường P, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1989; HKTT: Khóm An Bình 4, thị trấn B, huyện T, tỉnh A; Ngụ tại: 114/25 đường P, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Bùi Trúc Anh trình bày:
Bà và ông Huỳnh Văn S tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 10, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 131/2016 ngày 14/7/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ số 114/25 đường P, phườngT, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vợ chồng chung sống được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn nhưng đỉnh điểm mâu thuẫn là từ năm 2019. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hoà hợp, bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã về vấn đề con cái và chuyện tiền bạc. Bên cạnh đó, ông S không có trách nhiệm, thường xuyên đi chơi đêm, nhậu nhẹt, bỏ mặc gia đình và vợ con. Ông S cũng không phụ giúp vợ về mặt kinh tế, bà A phải tự làm và tự lo cho con cái. Nhiều lần bà A đã khuyên nhủ và cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng không còn sinh hoạt chung, mạnh ai nấy sống, không có sự quan tâm, chia sẻ với nhau. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên bà A yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn S.
Về con chung: Bà A khai nhận vợ chồng có một người con chung là Huỳnh Quốc D, sinh ngày 28/7/2018. Từ lúc sinh con đến nay, con do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông S không phụ giúp gì bà trong việc nuôi dạy con cái. Vì vậy, bà A yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà A khai nhận vợ chồng không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà A khai nhận vợ chồng không có nợ chung.
Toà án nhân dân quận Tân Phú đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập đương sự cho ông Huỳnh Văn S nhưng phía bị đơn không có mặt tại Toà án để giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn: Có đơn yêu cầu vắng mặt.
- Bị đơn: Vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú nhận xét quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A đối với ông S
- Về quan hệ con chung: Căn cứ theo yêu cầu của bà A, để ổn định tâm lý và sự phát triển bình thường của trẻ nên chấp nhận giao con chung cho bà A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Anh không yêu cầu.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết
- Về án phí: Bà Anh phải chịu và tính theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, sau khi nghị án Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 131/2016 ngày 14/7/2016 do Ủy ban nhân dân Phường 10, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Bùi Trúc A và ông Huỳnh Văn S thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông S là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Nay bà A yêu cầu ly hôn, ông S có nơi cư ngụ tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục xét xử vắng mặt bà Bùi Trúc A: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 25/8/2022. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục xét xử vắng mặt ông Huỳnh Văn S: Do ông S vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông Sang.
Tại phiên tòa, ông Huỳnh Văn S không có mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật. Ông S phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
. Về yêu cầu của nguyên đơn: Bà Bùi Trúc A yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn S:
Căn cứ lời khai của bà Anh thấy rằng trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, trong cuộc sống vợ chồng có xảy ra những bất đồng. Ông S không có trách nhiệm với vợ con, không phụ giúp vợ lo kinh tế gia đình, mọi việc trong gia đình đều do một mình bà A gánh vác. Nhiều lần bà A đã khuyên nhủ và cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay bà A đã hết tình cảm với ông S nên không thể tiếp tục chung sống với ông Sang.
Tòa án nhiều lần triệu tập và tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông S vắng mặt. Điều này thể hiện ông S không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà A và ông S là có thật và đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà A yêu cầu được ly hôn với ông S là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A.
. Về quan hệ con chung: Bà A khai nhận vợ chồng có một người con chung là Huỳnh Quốc D, sinh ngày 28/7/2018.
Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai nuôi là phải dựa vào quyền lợi của trẻ. Từ trước đến nay, cháu D đều do bà A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Vì vậy để ổn định cuộc sống cũng như tâm lý của cháu D thì việc bà A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn phù hợp với lợi ích của trẻ và phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của bà A.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử ghi nhận việc bà A không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Do đó, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông S.
. Về quan hệ tài sản:
- Về tài sản chung: Bà A khai nhận vợ chồng không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà A khai nhận vợ chồng không có nợ chung.
Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
.Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bà Anh chịu án phí theo qui định của pháp luật là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Trúc A:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Trúc A được ly hôn với ông Huỳnh Văn S.
Giấy chứng nhận kết hôn số 131/2016 ngày 14/7/2016 do Ủy ban nhân dân Phường 10, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Bùi Trúc A và ông Huỳnh Văn S không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về quan hệ con chung: Bà A khai nhận vợ chồng có một người con chung là Huỳnh Quốc D, sinh ngày 28/7/2018. Giao con chung cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Sang do bà A không yêu cầu.
+ Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Ông S được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về quan hệ tài sản:
+ Về tài sản chung: Bà A khai nhận vợ chồng không có tài sản chung.
+ Về nợ chung: Bà A khai nhận vợ chồng không có nợ chung.
2/ Về án phí:
- Bà Bùi Trúc A chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà A đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0013540 ngày 22 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà A đã nộp đủ.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3/ Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Q.Tân Phú; - Chi cục THADS Q. Tân Phú; - UBND Phường 10, Q. Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hương |