vanban.org

Bản án 623/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị Cẩm T và ông Hồ Minh Ch.

Về con chung: Giao con chung tên Hồ Lê Thái B, sinh ngày 01/8/2006 cho bà Lê Thị Cẩm T được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Hồ Minh Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị Cẩm T và ông Hồ Minh Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 623/2022/HNGĐ - ST
Ngày:
30 - 12 - 2022
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Cao Trí;

Bà Nguyễn Thị Thu Sương.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 594/2022/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 480/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Cẩm T, sinh năm 1986; (Xin vắng mặt).

Trú tại tổ 13, ấp Khánh B, xã Khánh H, huyện CP, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Hồ Minh Ch, sinh năm 1978 (Xin vắng mặt).

Trú tại tổ 54, ấp Chánh H, xã Bình L, huyện CP, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2022 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm T trình bày: Bà T và ông Ch tìm hiểu, quen biết nhau và tiến tới hôn nhân vào năm 2003 không có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian, về sau vợ chồng bất đồng quan điểm sống, phát sinh mâu thuẫn, thường hay cải vả nhau, cuộc sống không còn hạnh phúc. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông Ch. Về con chung: Bà T và ông Ch chung sống có 01 con chung tên Hồ Lê Thái B, sinh ngày 01/8/2006 hiện đang ở với bà T, ly hôn bà T yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Hồ Minh Ch trình bày: Thống nhất với phần trình bày của bà T về thời gian chung sống, mâu thuẫn, đồng ý ly hôn. Con chung có 01 con chung tên Hồ Lê Thái B, sinh ngày 01/8/2006 hiện đang ở với bà T, ly hôn đồng ý giao con chung cho bà T nuôi dưỡng, ông Ch không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung không có, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa:

Bà T, ông Ch có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Ông Hồ Minh Ch có hộ khẩu thường trú tại xã Bình L, huyện CP, tỉnh An Giang. Bà T khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CP thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Bà T và ông Ch chung sống năm 2003 nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình giả quyết vụ án ông Ch và bà T cho rằng vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc, nay không còn tình cảm đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên cả hai đồng ý ly hôn. Xét thấy, bà T và ông Ch chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2003 và có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không đăng ký là không đúng với quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Cẩm T và ông Hồ Minh Ch.

- Về con chung: Bà T và ông Ch chung sống có 01 con chung tên Hồ Lê Thái B, sinh ngày 01/8/2006 hiện đang ở với bà T, bà T và ông Ch thống nhất giao cháu B cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét cháu B đang ở với bà T, do bà T chăm sóc nuôi dưỡng ổn định, cháu B có nguyện vọng ở với bà T, bà T cũng có yêu cầu nuôi cháu B nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Hồ Lê Thái B, sinh ngày 01/8/2006 cho bà Lê Thị Cẩm T được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Bà T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẻ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 51; khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị Cẩm T và ông Hồ Minh Ch.

Về con chung: Giao con chung tên Hồ Lê Thái B, sinh ngày 01/8/2006 cho bà Lê Thị Cẩm T được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Hồ Minh Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Lê Thị Cẩm T phải chi ̣u 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng)

̀ án phi Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ ta ̣m ứ ng án phi đa ̃

́

́ nộp theo biên lai thu số 0005084 ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Chi cu ̣c thi hành án dân sự huyện CP.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ