- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Hồng G tranh chấp ly hôn với ông Võ Chí A"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 622/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05-7-2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Dựa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nguyên.
2. Ông Phạm Văn Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2022, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 432/2021/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2021 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2022 giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng G, sinh năm: 1993;
Địa chỉ: B5/14K ấp 2, xã TK, huyện BC, Thành phố H (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Võ Chí A, sinh năm; 1994;
Địa chỉ B5/14K ấp 2, xã TK, huyện BC, Thành phố H. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Gtrình bày:
Bà và ông Võ Chí A tự nguyện kết hôn vào năm 2019, có tìm hiểu, tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2019, Giấy chứng nhận kết hôn số 12 do UBND xã MP, huyện MT, tỉnh ST cấp ngày 13/02/2019, thời gian đầu sống chung hạnh phúc sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, do tính tình quan điểm sống không còn hòa hợp, vợ chồng không có sự yêu thương chăm sóc lẫn nhau. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà Gyêu cầu ly hôn với ông A.
Về con chung: Có một người con chung tên Võ Hoàng Ngân A1, giới tính nữ, sinh ngày 27/6/2019. Bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Ngân Anh. Bà G không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung; Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vắng mặt tại Tòa án, không thể hiện ý kiến gì.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1]. Bà Nguyễn Thị Hồng G yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Võ Chí A. Đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo kết quả trả lời xác minh của Công A xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh thì “Đương sự Võ Chí A, sinh năm 1994 có thực tế cư trú tại B5/14K ấp 2, xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh”. Như vậy, bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện Bình Chánh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
. Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 12 do UBND xã MP, huyện MT, tỉnh ST cấp ngày 13/02/2019 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hồng G và ông Võ Chí A là vợ chồng được pháp luật công nhận quy định tại Điều 9, Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xác định đời sống chung vợ chồng giữa bà G và ông A phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không quan tâm chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống với nhau, hai người không còn thương yêu chăm sóc lẫn nhau. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, ông A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông A vẫn vắng mặt không rõ lý do, điều này cho thấy ông A đã không quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, theo Công văn số 308/UBND ngày 15/4/2022 của Ủy ban nhân dân xã Tân Kiên trả lời xác minh quan hệ hôn nhân đã xác nhận “Trường hợp giữa bà Nguyễn Thị Hồng G và ông Võ Chí A thì địa phương không rõ, không nắm thông tin”. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa Bà G và ông A là có thật. Hơn nữa, bà G và ông A cũng đã sống ly thân với nhau trong một thời gian dài. Do đó, tình trạng hôn nhân giữa Bà G và ông A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng Glà có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về con chung: Bà G và ông A có 01 con chung tên Võ Hoàng Ngân A1, giới tính nữ, sinh ngày 27/6/2019. Khi ly hôn, bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Võ Hoàng Ngân A1. Bà Gkhông yêu cầu ông Võ Chí A cấp dưỡng nuôi con chung. Xét, trẻ Anh đang sống chung với bà G. Bà G đã chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho trẻ A1. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử giao trẻ A1 cho bà G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông A.
Ông A có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
. Về tài sản chung: Bà G xác định không có, còn ông A vắng mặt, không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về tài sản chung giữa ông và bà Gấm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề về tài sản chung. Trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
. Về nợ chung: Bà G xác định không có, còn ông A vắng mặt, không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về nợ chung giữa ông và bà Gấm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề về nợ chung. Trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận;
. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 9 và Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng G.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng G được ly hôn với ông Võ Chí A
Giấy chứng nhận kết hôn số 12 do UBND xã MP, huyện MT, tỉnh ST cấp ngày 13/02/2019 không còn giá trị pháp lý.
1.2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng G và ông Võ Chí A có một người con chung tên Võ Hoàng Ngân A1, giới tính nữ, sinh ngày 27/6/2019. Giao trẻ Võ Hoàng Ngân A1, giới tính nữ, sinh ngày 27/6/2019 cho bà Nguyễn Thị Hồng G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông A.
Ông A có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
1.3. Về tài sản chung: Bà G xác định không có nên Tòa không đặt ra để giải quyết.
1.4. Về nợ chung: Bà G xác định không có nên Tòa không đặt ra để giải quyết.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng G phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2019/0081331 ngày 12 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà G đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân H.BC; - Chi cục THADS H.BC; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu: VT, hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trƣơng Văn Dựa |