- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn sơ thẩm Phan Thị Huyền Th - Hoàng Ngọc L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị Huyền Th được ly hôn với anh Hoàng Ngọc L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 621/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21/10/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành và ông Võ Duy Bảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Bằng Giang – Kiểm sát viên.
Vào ngày 21/10/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 369/2025/TLST-HNGĐ ngày 12/5/2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 694/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Phan Thị Huyền Th, sinh năm 1994. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm Phú Thọ, xã Nam Cát, huyện Nam Đàn (nay là xã Kim Liên), tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: BULHARSKA 4461/95, BRATISLAVA-RUZINOV, Cộng hòa Xlô-vakia. Số Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx (Chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx). Vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.
- Bị đơn: anh Hoàng Ngọc L, sinh năm 1988. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm Phú Thọ, xã Nam Cát, huyện Nam Đàn (nay là xã Kim Liên), tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: BENCUROVA 3714/52, BRATISLAVA-RUZINOV, BRATISLAVA, Cộng hòa Xlo-vakia. Chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx (Số hộ chiếu xxxxxxxx). Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Ngọc Th, sinh năm 1960 và bà Lê Thị Ch, sinh năm: 1961. Địa chỉ: xóm Phú Thọ, xã Nam Cát, huyện Nam Đàn (nay là xã Kim Liên), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/01/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị Huyền Th trình bày: chị Phan Thị Huyền Th và anh Hoàng Ngọc L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/02/2017 tại UBND xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay anh Hoàng Ngọc L đang làm ăn, sinh sống tại nước Cộng hòa Xlô-Vakia từ năm 2008 đến nay, không có địa chỉ liên lạc, thỉnh thoảng có liên lạc với nhau qua mạng xã hội. Nay chị Phan Thị Huyền Th thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Ngọc L.
Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Ngọc Thiên T, sinh ngày 25/01/2018 và Hoàng Ngọc Anh D, sinh ngày 27/8/2019 tại Xlô-Vakia. Năm 2019, chị Huyền Thanh và hai con về Việt Nam. Đến tháng 7/2022, chị Huyền Thanh bay sang Xlô-Vakia, chị có nhờ ông bà nội là ông Hoàng Ngọc Th và bà Lê Thị Ch chăm sóc cháu Hoàng Ngọc Anh D, nhờ ông bà ngoại chăm sóc cháu Hoàng Ngọc Thiên T. Đến cuối năm 2022, anh L về đón 02 con sang lại Xlô-Vakia. Khoảng hè năm 2024, anh L đưa cháu T về Việt Nam ở với ông bà nội, đến tháng 7/2025 cháu T sang ở với anh L. Như vậy, thời gian các cháu ở với ông bà nội chỉ được hơn 01 năm chứ không phải 05 năm như ông Hoàng Ngọc Th và bà Lê Thị Ch trình bày. Hiện nay, cháu Hoàng Ngọc Anh D và cháu Hoàng Ngọc Thiên T đang ở với anh Hoàng Ngọc L tại nước Cộng Hòa Xlô-Vakia. Khi rời khỏi nhà chị hoàn toàn tay trắng, anh L và gia đình thường xuyên gây khó khăn, cản trở không cho chị được gặp con; mọi tài sản vợ chồng đều do anh L chiếm giữ nên thời gian đó anh L phải chu cấp nuôi con. Vì vậy việc ông Th, bà Ch yêu cầu thanh toán tiền nuôi dưỡng cháu mỗi tháng 8.000.000 đồng là không có căn cứ. Nếu ly hôn nguyện vọng của chị Th là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Ngọc Thiên T và giao cháu Hoàng Ngọc Anh D cho anh Hoàng Ngọc L chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại Đơn trình bày ngày 14/10/2025, chị Huyền Th trình bày hai con của chị được sinh ra ở nước ngoài và hiện đang ở nước ngoài nên không thuộc thẩm quyền giải quyết tại Việt Nam, tài sản chung vợ chồng cũng liên quan đến nước ngoài nên về vấn đề tài sản và con cái, chị sẽ làm việc với Tòa án tại Xlô-Vakia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Hoàng Ngọc L: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, công văn yêu cầu anh Hoàng Ngọc L có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, … cho anh Hoàng Ngọc L thông qua ông Hoàng Ngọc Th và bà Lê Thị Ch là bố mẹ đẻ của anh L; đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nêu trên tại trụ sở UBND xã Nam Cát, huyện Nam Đàn (nay là xã Kim Liên), tỉnh Nghệ An là nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam của anh L nhưng anh Hoàng Ngọc L vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Tuy nhiên trong khi Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án, anh L gửi đơn kháng cáo đề ngày 08/10/2025 trình bày chị Phan Thị Huyền Th đã bỏ đi từ khoảng đầu năm 2022, không chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu Thiên T và Anh D. Khi chị Th bỏ đi một mình anh L chăm sóc cả hai con, hiện nay hai cháu đều phát triển bình thường, sức khỏe tốt, cháu Thiên T bị bệnh tăng động cũng đã ổn định nên anh đề nghị giao hai con chung cho anh L nuôi dưỡng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Ngọc Th và bà Lê Thị Ch trình bày: ông Th, bà Ch là bố mẹ đẻ của anh Hoàng Ngọc L. Sau khi lấy vợ, sinh được 02 người con thì đến khoảng tháng 4/2017 anh L đi nước ngoài nhưng thường xuyên liên lạc về với gia đình qua mạng xã hội. Năm 2021, chị Th và hai con là cháu T và cháu D về Việt Nam. Khoảng tháng 4/2022, chị Th bỏ đi để lại hai con cho ông bà. Tháng 03/2023, anh L về đón cháu D sang nước ngoài ở cung anh L, còn cháu T ở từ đó cho đến khoảng tháng 7/2025 thì cháu T sang nước ngoài cùng anh L. Hiện nay, anh L và hai con đang sinh sống tại Bencurova 3714/52, Bratislava – Ruzinov, Bratislava. Gia đình đã thông báo cho anh Hoàng Ngọc L biết về việc chị Phan Thị Huyền Th làm đơn xin ly hôn, qua trao đổi anh L cũng đồng ý ly hôn với chị Huyền Th. Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/8/2025, ông bà yêu cầu anh L, chị Th thanh toán chi phí nuôi cháu là 8.000.000 đồng/tháng trong vòng 05 năm với số tiền 480.000.000 đồng. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 14/10/2025, ông Th, bà Ch thay đổi lời khai không không yêu cầu chị Th, anh L phải thanh toán chi phí chăm sóc các cháu.
Trong hồ sơ vụ án, Nguyên đơn chị Phan Thị Huyền Th có cung cấp cho Tòa án 01 Đơn trình bày nguyện vọng của cháu Hoàng Ngọc Thiên T đề ngày 24/3/2025. Tuy nhiên, căn cứ theo lời khai của ông Th, bà Ch và Công văn số 4059/PA08-Đ1 ngày 30/9/2025 của Phòng PA08 Công an tỉnh Nghệ An, thì chị Phan Thị Huyền Th xuất cảnh ngày 10/7/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước; cháu Hoàng Ngọc Thiên T xuất cảnh ngày 20/8/2025 và cháu Hoàng Ngọc Anh D xuất cảnh ngày 07/8/2024 hiện nay đang ở cùng với anh Hoàng Ngọc L tại Cộng hòa Xlô-Vakia do đó Tòa án không có cơ sở để xác định đây là lời trình bày của cháu T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn ở nước ngoài chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Phan Thị Huyền Th được ly hôn anh Hoàng Ngọc L. Về con chung: Giao con chung là Hoàng Ngọc Thiên T và cháu Hoàng Ngọc Anh D cho anh Hoàng Ngọc L chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nguyên đơn do bị đơn chưa có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị Phan Thị Huyền Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại xóm Phú Thọ, xã Nam Cát, huyện Nam Đàn (nay là xã Kim Liên), tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Công văn số 4059/PA08-Đ1 ngày 30/9/2025 và Công văn số 3512/QLXNC-Đ1 ngày 29/8/2025 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Nghệ An thì chị Phan Thị Huyền Th đi nước ngoài ngày 10/7/2022, anh Hoàng Ngọc L đi nước ngoài ngày 26/12/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước; Theo xác nhận của Đại sứ Quán Xlô-vakia thì hiện nay anh L và chị Th đang ở Xlô-vakia. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Hoàng Ngọc L đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị Phan Thị Huyền Th, ông Hoàng Ngọc Th và bà Lê Thị Ch vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Huyền Th và anh Hoàng Ngọc L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng cùng sinh sống tại Cộng hòa Xlô-Vakia nhưng không ở cùng nhau nên không có điều kiện để hàn gắn mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân rơi vào tình trạng bế tắc, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, chị Phan Thị Huyền Th thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Phan Thị Huyền Th được ly hôn với anh Hoàng Ngọc L. Anh Hoàng Ngọc L đã biết về việc chị Th đề nghị ly hôn nhưng cũng không có ý kiến mong muốn hòa giải đoàn tụ gửi cho Tòa án. Do đó, xét thấy, hôn nhân của chị Th và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Phan Thị Huyền Th được ly hôn với anh Hoàng Ngọc L.
Về con chung: Vợ chồng chị Th, anh L có hai con chung là cháu Hoàng Ngọc Thiên T, sinh ngày 25/01/2018 và Hoàng Ngọc Anh D, sinh ngày 27/8/2019. Hiện các cháu đang ở với anh Hoàng Ngọc L tại Cộng hòa Xlo-Vakia. Ly hôn, chị Phan Thị Huyền Th có nguyện vọng được nuôi cháu Hoàng Ngọc Thiên T và giao cháu Hoàng Ngọc Anh D cho anh Hoàng Ngọc L chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung; anh L đề nghị được nuôi cả hai con. Tại đơn trình bày đề ngày 14/10/2025, chị Huyền Th trình bày hai con của chị được sinh ra ở nước ngoài và hiện đang ở nước ngoài nên không thuộc thẩm quyền giải quyết tại Việt Nam. Xét thấy, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì khi ly hôn, vợ chồng phải thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên nuôi dưỡng căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Do đó, chị Huyền Th cho rằng hai con của chị được sinh ra ở nước ngoài và hiện đang ở nước ngoài nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam và đề nghị Tòa án tỉnh Nghệ An không giải quyết vấn đề nuôi con chung là không có căn cứ chấp nhận. Hiện nay, hai con đang sinh sống ổn định với anh Hoàng Ngọc L ở nước ngoài; anh L có đủ điều kiện để nuôi hai con. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích cho con chung cần tiếp tục giao cả hai con Hoàng Ngọc Thiên T và Hoàng Ngọc Anh D cho anh Hoàng Ngọc L chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Huyền Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bị đơn anh Hoàng Ngọc L chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
Về chi phí nuôi cháu: Ông Hoàng Ngọc Th và bà Lê Thị Ch có thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và cháu D nhưng không yêu cầu anh L, chị Th phải thanh toán chi phí nuôi các cháu nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phan Thị Huyền Th không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay anh Hoàng Ngọc L chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
Về án phí: Chị Phan Thị Huyền Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 37; 40; 147; 227; 228; 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị Huyền Th được ly hôn với anh Hoàng Ngọc L.
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Ngọc Thiên T, sinh ngày 25/01/2018 và cháu Hoàng Ngọc Anh D, sinh ngày 27/8/2019 cho anh Hoàng Ngọc L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chị Phan Thị Huyền Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Phan Thị Huyền Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007805 ngày 12/5/2025 (do anh Lê Hồng Ng nộp thay). Chị Phan Thị Huyền Th đã nộp đủ án phí.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
6. Chị Phan Thị Huyền Th và anh Hoàng Ngọc L đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Ông Hoàng Ngọc Th và bà Lê Thị Ch có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nghệ An; - THADS tỉnh Nghệ An; - UBND xã Kim Liên; - Lưu HSVA, Tòa GĐ, VP. CÁC HỘI THẨM Mai Xuân Thƣờng Dƣơng Thanh Cảnh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |