- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Hồng H được ly hôn với anh Nguyễn Xuân L.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 621/2021/HNGĐ-ST Ngày: 24-8-2021 V/v ly hôn giữa chị H và anh L. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Phối
Ông Nguyễn Đình Thọ
-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Phong là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 375/2021/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2021 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 161/2021/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng H, sinh năm 1997; Địa chỉ: Số B đường CLV, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân L, sinh năm 1992; Địa chỉ: Số A đường NXN, phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06-5-2021 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Hồng H trình bày: Chị và anh Nguyễn Xuân L kết hôn vào ngày 14/5/2018, đăng ký kết hôn tại UBND phường Ghềnh Ráng, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định theo giấy chứng nhận kết hôn số 24, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu nhau trước khi kết hôn khoảng một năm. Kể từ ngày chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc bình thường. Đến đầu năm 2020 thì vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, mặt khác anh L không lo làm ăn mà ham mê cờ bạc dẫn đến nợ nần. Chị và gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh L vẫn không thay đổi nên đến cuối năm 2020 chị đã nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn yêu cầu Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh L, sau đó hai bên gia đình động viên hòa giải nên chị đã rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên sau đó anh L vẫn không thay đổi. Chị xác định mâu thuẫn vợ chồng chị đã rất trầm trọng, không thể hàn gắn được, vợ chồng chị đã sống ly thân từ giữa năm 2020 cho đến nay, phần ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân L.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị không có con chung nên chị không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Xuân L: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh L vẫn cố tình vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thờ i điểm xét xử sơ thẩm . Tại phiên tòa sơ thẩm , Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vu ̣ án : Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Hồng H xin ly hôn anh Nguyễn Xuân L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Hồng H, là nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 03-8-2021. Anh Nguyễn Xuân L, là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo qui định tại Điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Nguyễn Hồng H và anh Nguyễn Xuân L.
Về nội dung: Xét yêu cầu ly hôn của chị H, căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 24 ngày 14/5/2018 do UBND phường Ghềnh Ráng, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định cấp đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Hồng H và anh Nguyễn Xuân L là hôn nhân hợp pháp. Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L vì mâu thuẫn giữa chị và anh L đã trầm trọng không có khả năng hàn gắn, hiện vợ chồng chị đã sống ly thân, tình cảm không còn, không ai còn sự quan tâm, chăm sóc đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh L đến Tòa để khai báo, hòa giải tạo điều kiện cho anh L hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh L cố tình vắng mặt. Điều này thể hiện anh L thực sự không muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, không quan tâm đến việc chị H yêu cầu ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy hôn nhân giữa chị H và anh L không còn thương yêu, quý trọng, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng, do đó hôn nhân giữa chị H và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp theo qui định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và cũng phù hợp với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung, chị H khai: Chị và anh L không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 buộc chị Nguyễn Hồng H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Hồng H được ly hôn với anh Nguyễn Xuân L.
2. Về con chung: Chị H và anh L không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Hồng H phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002493 ngày 11/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Chị H đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Hồng H và anh Nguyễn Xuân L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Tp. Quy Nhơn; - UBND P. Ghềnh Ráng, TP Quy Nhơn, T. Bình Định (ĐKKH số 24/14.5.2018) - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Đặng Thị Kim Anh |