- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị Hiền và anh Tuấn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 621/2019/HNGĐ-ST Ngày: 08-11-2019 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị H và anh T |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Liên
Ông Nguyễn Văn Quỹ
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý 507/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2019/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1976; Nơi cư trú: số 165Đ Ô 17
phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Anh Nguyễn Công T, sinh năm 1973; Nơi cư trú: số 165Đ Ô 17
phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định.
(chị H có mặt tại phiên tòa, anh T vắng mặt tại phiên tòa lần 2)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình đề ngày 05-8-2019, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Đinh Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Công T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Nam Định ngày 13-9-1997 và có thời gian tìm hiểu trước khi cưới khoảng 01 năm. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm lối sống, anh T không tu chí làm ăn, không chăm lo gia đình và vợ con. Ngoài ra còn nghiện ma túy, lô đề cờ bạc, chị H có khuyên bảo để anh T từ bỏ ma túy nhưng anh T không thay đổi và thường mang tài sản của vợ chồng để đi cầm cố lấy tiền sử dụng ma túy và chơi lô đề. Anh T còn hành hung đánh đập chị H và các con. Do mâu thuẫn kéo dài nên từ năm 2017 chị H đã thuê trọ tại địa chỉ 62 Cầu Đông, phường L ở và vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Chị H xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị H xác định vợ chồng có hai chung là Nguyễn Công Nhật, giới tính Nam, sinh ngày 15-02-1999 và Nguyễn Công Tuấn Hoàn, giới tính Nam, sinh ngày 07-07-2003. Hiện nay cháu Nhật đã trưởng thành, tự lập. Còn cháu Hoàn đang ở cùng với chị. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàn và không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: Chị H xác định vợ chồng không có gì và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Công T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh T không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa nên anh T không có quan điểm để giải quyết vụ án.
Tại đơn đề nghị của cháu Nguyễn Công Tuấn Hoàn ngày 23-9-2019 trình bày nếu bố mẹ ly hôn cháu Hoàn có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Đinh Thị H.
Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 25-9-2019 tại Ủy ban nhân dân phường H xác nhận: Quá trình chung sống vợ chồng chị H và anh T thường xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm. Anh T ham mê cờ bạc, nghiện ma túy, thường xuyên uống rượu, có hành vi bạo lực với chị H và các con. Hiện tại anh chị đã sống ly thân, chị H và các con đang phải ra ngoài thuê nhà ở. Về con chung: Vợ chồng anh chị có hai con chung là Nguyễn Công Nhật, giới tính nam, sinh ngày 15-02-1999 và Nguyễn Công Tuấn Hoàn, giới tính nam, sinh ngày 07-07-2003. Hiện tại hai con đang ở cùng với chị H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá: Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các qui định của pháp luật. Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự như sau: Nguyên đơn ®· thùc hiÖn ®Çy ®ñ quyÒn vµ nghÜa vô cña m×nh theo quy ®Þnh tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, quá trình giải quyết vụ án đã không cung cấp bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, 02 lần vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do. Như vậy bị đơn đã tự từ bỏ các quyền và nghĩa vụ của mình. Về việc giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó căn cứ áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa chị H và anh T. Về con chung: Xét cháu Nguyễn Công Nhật đã trưởng thành tự lập, chị H không yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Đối với cháu Nguyễn Công Tuấn Hoàn hiện tại đang ở cùng với chị H và có nguyện vọng được ở với mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nguyện vọng của chị H giao con Nguyễn Công Tuấn Hoàn cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về tài sản chung và vay nợ: chị H không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là anh Nguyễn Công T. Tại phiên tòa anh T vắng mặt lần 2 mà không có người đại diện tham gia phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về hôn nhân: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Nam Định năm 1997 nên hôn nhân giữa chị H và anh T là hôn nhân hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Sau khi kết hôn Chị H và anh T sống hòa thuận đến khoảng năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm. Anh T không quan tâm và không có trách nhiệm gì với gia đình, vợ con. Ngoài ra anh T còn nghiện ma túy, lô đề, cờ bạc và có hành vi bạo lực với chị H và các con. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và có nguyện vọng được ly hôn với anh T. Đối với anh T, Tòa án đã triệu tập nhưng anh T không đến Tòa án để viết bản tự khai và không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa anh T vẫn vắng mặt không có lý do thể hiện việc anh T không có thiện chí hòa giải, giải quyết mâu thuẫn vợ chồng và việc nuôi con. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị H và anh T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tranh chấp nuôi con: Cháu Nguyễn Công Nhật đã trưởng thành tự lập, chị H không yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Đối với cháu Nguyễn Công Tuấn Hoàn, chị H có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng sau khi vợ chồng ly hôn. Xét thấy, cháu Hoàn hiện đang sinh sống ổn định cùng chị H và có nguyện vọng ở với chị. Anh T không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa để trình bày về việc nuôi con cũng như về cấp dưỡng nuôi con. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử có căn cứ giao con là Nguyễn Công Tuấn Hoàn cho chị Đinh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét việc chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Công T.
2. Về nuôi con chung: Giao con Nguyễn Công Tuấn Hoàn giới tính nam, sinh ngày 07-07-2003 cho chị Đinh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đinh Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Công T cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.
Người không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Đinh Thị H đã nộp tại biên lai số 0002514 ngày 16-9-2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Công T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND phường H; - VKSND thành phố Nam Định; - Chi Cục THA dân sự thành phố Nam Định; - Hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lƣơng Thị Kim Huế |