vanban.org

Bản án 620/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Q.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Đức Q và bà Đinh Thị Thu L Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Bảo K, sinh ngày 29/12/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 620/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 04-11-2021
V/v: tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 11 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 269/2021/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 189/2021/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức Q, sinh năm: 1990 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: tổ 4, khu phố 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh B

2. Bị đơn: Bà Đinh Thị Thu L, sinh năm: 1996 (Vắng mặt).

Thường trú: 105/34 Nguyễn Tư Giản, phường 12, quận G, Thành phố H

Tạm trú: nhà không số, tổ 58A, ấp N, xã T, huyện H, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/3/2021 và trong quá trình xét xử vụ án thì lời trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Q như sau:

Vào năm 2016, ông Nguyễn Đức Q và bà Đinh Thị Thu L quen biết, yêu thương nhau, chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh B ngày 27/9/2016 (số 116). Khi kết hôn gia đình hai bên không có ai ngăn cản, cấm đoán, không bên nào cưỡng ép kết hôn, việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường hay tranh cãi, cuộc sống không hạnh phúc. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Qu yêu cầu ly hôn với bà L.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Bảo K, sinh ngày 29/12/2016.

Ông Q yêu cầu được nuôi cháu Bảo K, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con

Tài sản chung, nợ chung: không có.

Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn là bà L đều vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn là ông Q có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Q theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về: về thẩm quyền thụ lý vụ án, về xác định tư cách tố tụng, về thu thập chứng cứ, về thủ tục hòa giải, về thời hạn chuẩn bị xét xử, về thời gian gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, về thủ tục cấp tống đạt cho đương sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa ông Nguyễn Đức Q và bà Đinh Thị Thu L là ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn hiện đang cư trú tại tổ 58A, ấp N, xã T, huyện H, Thành phố H nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Q và bà L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh B ngày 27/9/2016 (số 116) nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

* Về hôn nhân: Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện ông Q và bà L có thời gian sống chung từ năm 2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường hay tranh cãi, không tôn trọng và tin tưởng nhau, cuộc sống không hạnh phúc. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà L vẫn không đến tòa án để trình bày ý kiến, yêu cầu của mình. Điều này chứng tỏ bà L không có thiện chí để vợ chồng đoàn tụ, hàn gắn trở về sống chung với nhau.

Hội đồng xét xử xét thấy: đời sống chung vợ chồng của ông Q và bà L đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài. Vì vậy việc ông Q yêu cầu ly hôn với bà L là có cơ sở chấp nhận.

Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Bảo K, sinh ngày 29/12/2016.

Ông Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bảo K. Hội đồng xét xử xét thấy: cháu K hiện đang sống chung với ông Q, không nên thay đổi môi trường sống làm ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của cháu K. Vì vậy, yêu cầu của ông Q là có cơ sở chấp nhận.

Về đóng góp nuôi con: ông Q không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về tài sản chung, nợ chung: Ông Q khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 21; 28; 35; 39; 48; 63; 184; 186; 188; 203; 205; 227; 228; 235; 244; 264; 266; 271 và 273 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ các Điều 8, 9, 10 và 27 cùng các danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Q.

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Đức Q và bà Đinh Thị Thu L

2. Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Bảo K, sinh ngày 29/12/2016.

Giao con chung tên Nguyễn Bảo K cho ông Nguyễn Đức Q trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Đinh Thị Thu L cho đến khi có yêu cầu của ông Nguyễn Đức Q.

Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết, một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3.Về tài sản chung, nợ chung: không có.

4. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng ông Nguyễn Đức Q chịu, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Đức Q đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2019/0074753 ngày 30/3/2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Ông Nguyễn Đức Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Về thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ