- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng V được ly hôn với anh Nguyễn Duy P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 620/2020/HNGĐ-ST Ngày: 23/7/2020 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân Hương
Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Cao Thị chính
2. Ông Nguyễn Hoàng Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Trúc Phương là Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 100/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2020/QĐXX-ST ngày 22 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2020/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hồng V, sinh năm: 1987 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 5, KV 3, phường N, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Duy P, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 44, KV 5, phường Q, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 02 năm 2020 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Trần Thị Hồng V trình baøy:
Chị và anh Nguyễn Duy P tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 31/12/2009 tại UBND phường Nguyễn Văn C, TP. Quy Nhơn, Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường, nhưng đến khoảng năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh P nhiều lần có quan hệ tình cảm và thuê nhà sống chung với người phụ nữ khác, không quan tâm đến gia đình và vợ con, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh P không thay đổi mà còn đánh đập chị. Vào tháng 8/2019 chị đã gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, sau khi được Tòa động viên hòa giải, chị đã rút đơn để vợ chồng có cơ hội hàn gắn. Nhưng từ đó đến nay mâu thuẫn không thể hàn gắn, anh P vẫn không thay đổi, mâu thuẫn trầm trọng nhất vào khoảng cuối năm 2019 nên vợ chồng đã sống ly thân. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh P.
Về quan hệ con chung: Chị và anh P có 02 con chung tên Nguyễn Trần Duy K, sinh ngày 06/3/2011 và Nguyễn Trần Khánh N, sinh ngày 03/12/2012. Hiện nay các con đang sống với chị, sức khỏe bình thường. Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết
+ Về quan hệ tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết, không có nợ chung.
* Bị đơn anh Nguyễn Duy P: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Duy P chấp hành triệu tập của Tòa án, không đến Tòa làm việc tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tuận dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn chị Trần Thị Hồng V đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Duy P không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Hồng V xin ly hôn anh Nguyễn Duy P.
Về con chung: Chị V và anh P có 02 con chung tên Nguyễn Trần Duy K, sinh ngày 06/3/2011 và Nguyễn Trần Khánh N, sinh ngày 03/12/2012. Chị V được nuôi dưỡng con chung, anh P không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Chị V phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa làm việc là không tuân thủ quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 06/7/2020 Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn đã triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt nên HĐXX đã quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 233 và Điều 235 BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Nguyễn Duy P vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Chị V và anh P tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường Nguyễn Văn C, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định vào ngày 31/12/2009, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị V, anh P sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị V trình bày là do anh P có quan hệ tình cảm và thuê nhà sống chung với người phụ nữ khác, không quan tâm đến gia đình và vợ con, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh P không thay đổi mà còn đánh đập chị. Mâu thuẫn ngày càng gay gắt, nên tháng 8/2019 chị đã gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, sau khi được Tòa động viên hòa giải, chị đã rút đơn để vợ chồng có cơ hội hàn gắn nhưng từ đó đến nay mâu thuẫn không thể hàn gắn, anh P vẫn không thay đổi nên chị và anh P đã sống ly thân từ cuối năm 2019 đến nay. Chị không còn tình cảm với anh P, yêu cầu được ly hôn với anh P. Còn anh P đã được Tòa triệu tập đến để khai báo, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải anh không đến. Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh P vẫn vắng mặt, đều đó thể hiện anh P không có thiện chí hàn gắn tình cảm nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị V.
- Về con chung: Chị V và anh P có 02 con chung tên Nguyễn Trần Duy K, sinh ngày 06/3/2011 và Nguyễn Trần Khánh N, sinh ngày 03/12/2012. Chị V được nuôi dưỡng 02 con chung, chị V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên được HĐXX chấp nhận.
- Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị V phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ-ST.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28,35,39,147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng V được ly hôn với anh Nguyễn Duy P.
2. Về con chung: Chị V được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Trần Duy K, sinh ngày 06/3/2011 và Nguyễn Trần Khánh N, sinh ngày 03/12/2012. Anh P không cấp dưỡng nuôi con.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Hai bên có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không bên nào được ngăn cản.
3. Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Hồng V phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ-ST. Được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007552 ngày 18/02/2020 của Chi cục Thị hành án dân sự thành phố Quy Nhơn (Chị V đã nộp xong).
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Tp.Quy Nhơn; - CQ THA DS Tp.Quy Nhơn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Đoàn Thị Xuân Hƣơng |