vanban.org

Bản án 620/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/11/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ông Phạm Minh H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền 13.655.152 đồng (Mười ba triệu sáu trăm năm mươi lăm ngàn một trăm năm mươi hai) đồng. (Trong đó vốn gốc 8.257.936 đồng, tiền lãi là 5.397.216 đồng). Ngoài ra, kể từ ngày 30/11/2019 ông H còn phải chịu lãi quá hạn trên nợ gốc theo thỏa thu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP S - Phạm Minh H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 1 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 620/2019/DS-ST
Ngày: 29/11/2019.
V/v “Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Mỹ Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Ngọc Tiến.

2. Bà Đào Ngọc Bích.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mạnh Thị Tú Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, địa chỉ số 27 đường Thành Thái, Phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 324/2019/TLST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 302/2019/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 321/QĐST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V.

Địa chỉ: Đường N, Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc M (Theo Giấy ủy quyền số 2193/2019/UQ-TTT ngày 28/10/2019).

Bị đơn: Ông Phạm Minh H, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Đường C, Phường M, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Nguyễn Ngọc M có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10/6/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng, thì nguyên đơn trình bày nội dung vụ án như sau:

Ngày 12/8/2008, ông H có ký với Ngân hàng TMCP V Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 60.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 773.401.919 đồng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cúa Ngân hàng). Ông H phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cúa Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 884.028.708 đồng. Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cúa Ngân hàng. Ngân hàng ưu tiên trừ lãi phí trước, giao dịch sau. Cụ thể sẽ ưu tiên trừ vào phí trễ hạn 8.392.023 đồng, trừ vào phí thường niên và các loại phí khác 26.873.400 đồng, trừ vào phí vượt hạn mức là 350.000 đồng, lãi trong hạn là 83.269.302 đồng, sau đó số tiền thanh toán còn lại là 765.143.983 đồng sẽ được trừ vào phần tiền giao dịch mà ông H sử dụng. Sau khi trừ hết các khoản trên thì số tiền giao dịch chưa thanh toán của ông H là 8.257.936.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 2 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cúa Ngân hàng, ngày 01/4/2018 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu qua nợ quá hạn như thỏa thuận tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cúa Ngân hàng. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 8.257.936 đồng, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Tính đến ngày 29/11/2019, ông H còn nợ các khoản sau:

Dư nợ chuyển quá hạn: 8.257.936 đồng.

Lãi quá hạn: 5.397.216 đồng.

Tổng cộng: 13.655.152 đồng.

Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông H phải trả ngay cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 29/11/2019 là 13.655.152 đồng và lãi phát sinh từ ngày 30/11/2019 cho đến khi ông H trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn – ông Phạm Minh H không đến tòa tham gia tố tụng dù đã được tống đạt hợp lệ nên không có trình bày ý kiến của ông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, đủ điều kiện mở phiên tòa xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo kết quả xác minh của Công an Phường M, Quận 10 thì “ông H có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ đường C, Phường M, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đương sự thực tế không cư trú ở địa phương, đã đi từ năm 2001. Hiện cư trú tại đường V, phường T, quận P”. Tuy nhiên, Công an phường T, quận P xác minh ở địa chỉ trên, ông H không có đăng ký thường trú và tạm trú. Như vậy, bị đơn – ông Phạm Minh H có nơi cư trú cuối cùng tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn – Ngân hàng TMCP V là tổ chức tín dụng khởi kiện yêu cầu ông H thanh toán số tiền ông H đã vay theo của Ngân hàng Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp laø tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 1 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Về thủ tục tố tụng:

[3.1] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Nguyễn Ngọc M có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn - ông H đến Tòa án tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nhưng ông H không tham gia và không có trình bày ý kiến đối với nội dung khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi hoãn phiên tòa lần thứ nhất, và tống đạt hợp lệ lần thứ hai, ông H vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP V, nhận thấy ngày 12/8/2008 ông H có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng (sau đây gọi là Hợp đồng sử dụng thẻ) với nội dung cơ bản như sau: Hạn mức tín dụng: 60.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân và lãi suất trong hạn là 2.15%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% x lãi trong hạn. (Theo Thông báo số 113/TB-TTT ngày 04/7/2011 của Ngân hàng TMCP V). Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xem xét nội dung của Hợp đồng sử dụng thẻ là sự thỏa thuận giữa Ngân hàng TMCP V và ông H.

Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc: Qua Bảng sao kê chi tiết ngày 29/11/2019 của Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 884.028.708 đồng, phát sinh các phí như phí trễ hạn 8.392.023 đồng, phí thường niên và các loại phí khác 26.873.400 đồng, phí vượt hạn mức là 350.000 đồng, lãi trong hạn là 83.269.302 đồng, sau đó số tiền thanh toán còn lại là 765.143.983 đồng được trừ vào phần tiền giao dịch mà ông H sử dụng. Ông H còn nợ Ngân hàng số tiền 765.143.983 đồng – 773.401.919 đồng = 8.257.936 đồng. Ngân hàng đã trừ số tiền ông H đã thanh toán theo thứ tự nêu trên phù hợp với thỏa thuận tại Điều 16, Điều 20, Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cúa Ngân hàng nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng đối với nợ gốc là 8.257.936 đồng.

Xét yêu cầu về tiền lãi: Căn cứ Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT- NHNN ngày 14/4/2010 có quy định “Tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thoả thuận đối với khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của dự án, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư, phát triển và đời sống có hiệu quả”, Hội đồng xét xử xét thấy, mức lãi suất trong hạn đã thỏa thuận của hai bên là 2.15%tháng và lãi quá hạn là 3.225%/tháng phù hợp với Điều 90 Luật các Tổ chức tín dụng. Ông H vi phạm thời hạn thanh toán từ ngày 01/4/2018 đến ngày 29/11/2019, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tiền lãi của Ngân hàng từ ngày 01/4/2018 đến ngày 29/11/2019 là 5.397.216 đồng.

Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu ông H thanh toán cho Ngân hàng với nợ gốc là 8.257.936 đồng, nợ lãi phát sinh là 5.397.216 đồng. Tổng cộng: 13.655.152 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày 30/11/2019 ông H còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn trên nợ gốc theo thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ cho đến khi ông H thi hành xong nghĩa vụ thanh toán nêu trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án là 5% x 13.655.152 đồng = 682.757 đồng, do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 3, Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010;

- Căn cứ Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Điều 1 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Ông Phạm Minh H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền 13.655.152 đồng (Mười ba triệu sáu trăm năm mươi lăm ngàn một trăm năm mươi hai) đồng. (Trong đó vốn gốc 8.257.936 đồng, tiền lãi là 5.397.216 đồng). Ngoài ra, kể từ ngày 30/11/2019 ông H còn phải chịu lãi quá hạn trên nợ gốc theo thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ cho đến khi ông H thi hành xong nghĩa vụ thanh toán nêu trên.

Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Minh H phải chịu là 682.757 (Sáu trăm tám mươi hai ngàn, bảy trăm năm mươi bảy) đồng tại Chi cục Thi hành án Quận 10.

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.988 (Ba trăm ngàn, chín trăm tám mươi tám đồng) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017629 ngày 25/7/2019 của Chi cục Thi hành án Quận 10.

3. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ/.

Cỡ chữ