- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm — án kinh doanh thương mại — "Công ty Cổ phần Nha Trang Đà Lạt - Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) - tranh chấp hợp đồng bảo hiểm"
- Tòa quyết gì? Nghị định số 119/2015/NĐ-CP ngày 13/11/2015 quy định bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng; Nghị định số 20/2022/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/3/2022 sửa đổi bổ sung Nghị định số 119/2015/NĐ-CP;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 119/2015/NĐ-CP Quy định bảo hiểm bắt buộc trong…; Nghị định số 20/2022/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2026/KDTM-PT Ngày: 15-4-2026 Về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thủy
Các Thẩm phán: Ông Trần Anh Tuấn
Ông Bùi Đức Bằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hiền - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 và 15/4/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 37/2025/TLPT-KDTM ngày 10/02/2025 về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 51/2024/KDTM-ST ngày 19, 23/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, nay là Toà án nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 09/2026/QĐ-PT ngày 06/01/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2025/QĐ-PT ngày 21/01/2026 và Thông báo mở lại phiên tòa số 211/TB-TA ngày 19/3/2026 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần N3; Trụ sở: Lô A, Khu T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng; Địa chỉ liên hệ: Số B N, phường T, tỉnh Nghệ An; Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh Q - Chức danh: Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Quang H, sinh năm 1985 và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1989; Đều có địa chỉ liên hệ: Số B N, phường T, tỉnh Nghệ An (Theo Giấy uỷ quyền số 371/2024/GUQ.NTĐL lập ngày 16/9/2024 của Công ty); Ông H và bà M có mặt.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần B (ABIC); Trụ sở: Tầng F Tòa nhà B đường H, phường Y, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến H1 - Chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Đậu Ngọc L - Chức danh: Phó Tổng giám đốc ABIC; Vắng mặt.
- Ông Phạm Thanh L1 - Chức danh: Phó Giám đốc Ban P; Có mặt.
- Ông Trần Chí C - Chức danh: Trưởng phòng bồi thường Tài sản kỹ thuật thuộc Ban Giám định bồi thường ABIC; Có mặt.
- Ông Đặng Minh T - Chức danh: Trưởng phòng Giám định bồi thường ABIC - Chi nhánh H5; Có mặt.
(Theo Giấy uỷ quyền số 02/UQ-ABIC-PC ngày 05/01/2026 của Công ty).
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Công ty Cổ phần B - Chi nhánh H5; Trụ sở: Tầng C, số C Đ, phường N, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Mậu V - Chức danh: Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Minh T - Chức danh: Trưởng phòng Giám định bồi thường Chi nhánh H5 (Theo Giấy ủy quyền số 005/UQ/ABIC.HN-TH ngày 08/01/2026 của Chi nhánh H5); Vắng mặt.
3.2. Công ty Cổ phần G1; Trụ sở: Số A N, phường H, thành phố Đà Nẵng; Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn C1 - Chức danh: Giám đốc; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Văn Đ - Chức danh: Giám định viên phòng Giám định TS-KTXD (Theo Giấy uỷ quyền ngày 20/02/2025 của Công ty); Có mặt.
3.3. Ngân hàng N4 - Chi nhánh H6; Địa chỉ: Tầng A Tòa nhà B đường P, phường Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Ngọc H2 - Chức danh: Giám đốc; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:
1. Về Hợp đồng bảo hiểm và nội dung tranh chấp:
Ngày 16/7/2019, Công ty Cổ phần N3 (sau đây viết tắt là “Công ty N3”) (Bên A - Bên được bảo hiểm) và Công ty Cổ phần B (sau đây viết tắt là “ABIC”) (Bên B - Bên bảo hiểm) ký Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng số 00729/19AD/KT/002/KD2 với nội dung:
- Đối tượng bảo hiểm: Là quá trình xây dựng Dự án khách sạn G2 thuộc Trung tâm trưng bày, mua bán và cung cấp dịch vụ hậu mãi theo tiêu chuẩn toàn cầu của T1 tại địa điểm: Lô A, khu T, phường A, TP Đ, tỉnh Lâm Đồng (sau đây viết tắt là “Dự án khách sạn”) và trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba trong quá trình xây dựng thi công dự án. Tổng giá trị công trình: 411.621.000.000 đồng.
- Người thụ hưởng là: Ngân hàng N4 - Chi nhánh H6.
- Người được bảo hiểm là: Công ty N3 với tư cách là Chủ đầu tư cùng các nhà thầu chính, nhà thầu phụ và các bên khác có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc thi công xây dựng, lắp đạt công trình.
- Điều kiện bảo hiểm: Áp dụng theo “Quy tắc bảo hiểm Mọi rủi ro xây dựng” của bên B ban hành kèm theo Quyết định số 2346/2014/QĐ-ABIC-TSKT ngày 05/9/2024 của ABIC (sau đây viết tắt là “Quy tắc bảo hiểm”) trong đó:
+ Bảo hiểm tổn thất vật chất: Mang tính chất bất ngờ và không lường trước được xảy ra trong quá trình thi công xây dựng, lắp đặt các hạng mục của công trình được bảo hiểm mà không thuộc các trường hợp quy định tại các điều khoản loại trừ bảo hiểm của hợp đồng.
+ Bảo hiểm trách nhiệm đối với bên thứ ba: Bên B sẽ bồi thường cho Người được bảo hiểm số tiền mà Người được bảo hiểm có trách nhiệm phải bồi thường theo quy định của pháp luật trong quá trình thi công xây dựng, lắp đặt các hạng mục của công trình được bảo hiểm làm thiệt hại đối với tài sản và con người của bên thứ ba mà không thuộc các trường hợp quy định tại các điều khoản loại trừ bảo hiểm của hợp đồng.
- Số tiền bảo hiểm tổn thất vật chất là: 411.621.000.000 đồng.
- Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với bên thứ ba là: 30.000.000.000 đồng/mỗi và mọi tổn thất trong suốt thời hạn bảo hiểm, trong đó giới hạn về người tối đa 100.000.000 đồng/người/vụ và tối đa không quá 30 người/vụ (tổng không quá 10.000.000.000 đồng cho toàn bộ thời hạn bảo hiểm); Giới hạn về thiệt hại tài sản: 20.000.000.000 đồng/vụ.
- Điều khoản loại trừ bảo hiểm: quy định tại Quy tắc bảo hiểm.
- Thời hạn bảo hiểm: Từ 26/6/2019 đến khi công trình hoàn thành, được bàn giao đưa vào sử dụng (dự kiến 24 tháng). Và cộng thêm 24 tháng bảo hành theo điều khoản bảo hiểm bảo hành mở rộng MR004. Thời gian bảo hiểm tối đa không quá 72 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng.
- Mức khẩu trừ áp dụng cho phần bảo hiểm tổn thất vật chất: 5% giá trị tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm nhưng không thấp hơn: Đối với rủi ro thiên tai, cháy, lỗi thiết kế...: 50.000.000 đồng/vụ tổn thất; Rủi ro khác: 30.000.000 đồng/vụ tổn thất.
- Mức khẩu trừ áp dụng cho phần bảo hiểm trách nhiệm đối với bên thứ ba: Đối với thiệt hại về tài sản: 10.000.000 đồng/vụ; Đối với thiệt hại về người: Không áp dụng mức khấu trừ.
- Tổng phí bảo hiểm là: 181.113.240 đồng.
- Giám định tổn thất: Trong vòng 48 giờ kể từ khi nhận được thông báo tổn thất của Bên A, Bên B phải có mặt tại hiện trường để phối hợp cùng Bên A và các đơn vị thi công tiến hành giám định, lập biên bản giám định nguyên nhân và mức độ tổn thất làm cơ sở cho việc bồi thường thiệt hại. Trường hợp tổn thất có tính chất phức tạp về mặt kỹ thuật hoặc có giá trị tổn thất ước tính lớn, hai bên sẽ bàn bạc để quyết định lựa chọn một công ty giám định độc lập, có uy tín và được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam có tên dưới đây để thực hiện công tác giảm định tổn thất:
+ Công ty Cổ phần Đ2 (VIETADJUSTER JSC);
+ Công ty TNHH G3 (RACO);
+ Công ty Cổ phần G1 (SICO);
+ Công ty khác do hai bên thỏa thuận.
Báo cáo giám định cuối cùng của công ty giám định độc lập được lựa chọn sẽ là cơ sở làm căn cứ bồi thường thiệt hại. Bên B chỉ chịu thanh toán chi phí giám định tổn thất trong các trường hợp nêu trên.
Ngoài ra Điều kiện bảo hiểm còn có các điều khoản bổ sung đính kèm theo hợp đồng.
Ngày 26/02/2020, trong quá trình thi công Dự án đã gây tổn thất về tài sản do xảy ra sự cố sụt lún, nứt nẻ, hư hỏng đối với nhiều nhà ở, công trình của các hộ dân và đường dân sinh lân cận. Ngày 03/3/2020, ABIC lựa chọn Công ty Cổ phần G1 (sau đây viết tắt là “SICO”) vào thực hiện việc giám định tổn thất tài sản bên thứ ba. Theo Báo cáo giám định cuối cùng tổn thất tài sản bên thứ ba Dự án khách sạn do SICO công bố ngày 23/12/2021 (tại trang 7/15), nguyên nhân tổn thất được xác định là: “do chấn động và dịch chuyển địa chất trong quá trình thi công Dự án khách sạn G2 thuộc trung tâm T7, mua bán và cung cấp dịch vụ hậu mãi theo chỉ tiêu chuẩn toàn cầu của T1 gây ra”. Ngày 01/11/2021, ABIC tạm ứng bồi thường cho Công ty N3 số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
Ngày 30/12/2021, ABIC căn cứ kết quả giám định nguyên nhân tổn thất của SICO đã phát hành Thông báo bồi thường số 2371/2021/TB-ABIC.HN-GĐBT với nội dung: “Nguyên nhân tổn thất được xác định là do chấn động và dịch chuyển địa chất trong quá trình thi công Dự án khách sạn G2 thuộc trung tâm T7, mua bán và cung cấp dịch vụ hậu mãi theo tiêu chuẩn toàn cầu của T1 gây ra. Đây là nguyên nhân bị loại trừ theo quy định tại Điểm 3 phần II - Trách nhiệm đối với người thứ ba của Quy tắc bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ban hành kèm theo quyết định số 2346/2014/QĐ-ABIC-TSKT ngày 05/09/2012 của Tổng giám đốc ABIC”. Theo đó, ABIC công bố số tiền bồi thường cho Công ty N3 theo điều khoản loại trừ và điều khoản bổ sung là: 950.000.000 đồng (Chín trăm năm mươi triệu đồng).
2. Tại Đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, Biên bản kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và các tài liệu chứng cứ khác, Nguyên đơn là Công ty Cổ phần N3 do người đại diện hợp pháp trình bày:
Công ty N3 xác nhận ngày 16/7/2019, Công ty N3 và P ký Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng số 00729/19AD/KT/002/KD2 với nội dung, cũng như sự việc tranh chấp như nêu trên.
Công ty N3 cho rằng việc ABIC áp dụng nguyên nhân tổn thất theo kết quả Báo cáo giám định cuối cùng do SICO công bố ngày 23/12/2021 để xác định đây là nguyên nhân tổn thất bị loại trừ theo quy định tại điểm 3 phần II - Trách nhiệm đối với người thứ ba của Quy tắc bảo hiểm để đưa ra số tiền bồi thường cho Công ty N3 như trên là không có cơ sở, vì:
Thứ nhất, SICO đang bị nhầm lẫn giữa xác định nguyên nhân và hậu quả. “Chấn động và dịch chuyển địa chất” (nếu có) là hậu quả do quá trình thi công móng và tường vây của Dự án khách sạn gây ra, từ đó gây tổn thất về tài sản cho các hộ dân lân cận mà không phải là nguyên nhân gây ra tổn thất.
Thứ hai, kết quả giám định nguyên nhân tổn thất do SICO đưa ra tại Báo cáo giám định cuối cùng là không có cơ sở, không khách quan và không khoa học. Quy trình giám định của SICO không đúng quy định của pháp luật về giám định tổn thất trong xây dựng vì: Trong toàn bộ quá trình giám định, SICO không thực hiện đầy đủ các công tác: khảo sát, đo vẽ hiện trạng sự cố công trình, tiến hành thí nghiệm lấy mẫu, quan trắc công trình và một số biện pháp giám định khác trên cơ sở của Luật và các Quy chuẩn tiêu chuẩn áp dụng như: TCVN 2737:1995 Tải trọng và tác động - Tiêu chuẩn thiết kế; TCVN 9378:2012 Khảo sát đánh giá tình trạng nhà và công trình xây gạch đá; TCVN 9360:2012 Quy trình kỹ thuật xác định độ lún công trình dân dụng và công nghiệp bằng phương pháp đo cao hình học, TCVN 9398:2012 Công tác trắc địa trong xây dựng công trình… Việc khảo sát, đo vẽ hiện trạng sự cố công trình và quan trắc công trình nhằm mục đích xác định được sự dịch chuyển của công trình, đó là cơ sở xác định nguyên nhân tổn thất của Dự án. Do đó, kết quả Báo cáo giám định cuối cùng của SICO là không hợp lệ.
Thứ ba, tại điểm 3 phần II - Trách nhiệm đối với người thứ ba của Quy tắc bảo hiểm quy định: “ABIC sẽ không bồi thường cho Người được bảo hiểm: 3. Thiệt hại đối với tài sản hay đất đai hay nhà cửa do chấn động hay kết cấu chịu lực và/hoặc địa chất công trình bị dịch chuyển hay suy yếu hoặc thương tật hay thiệt hại đối với người hay tài sản do bất kỳ tổn thất nào nêu trên gây ra (trừ khi có thoả thuận khác bằng sửa đổi bổ sung);”. Ở đây, địa chất công trình Dự án khách sạn không bị dịch chuyển, cũng không bị suy yếu mà do trong quá trình thi công hệ thống tường vây, đã ảnh hưởng tới nền đất các công trình lân cận Dự án khách sạn, gây nứt nẻ, hư hỏng cho nhà dân và công trình lân cận. Như vậy, nền đất (địa chất) bị dịch chuyển là địa chất ở khu vực các hộ dân, công trình lân cận, chứ không phải là địa chất khu vực công trình được nêu tại điểm 3 phần II Quy tắc bảo hiểm. Hơn nữa, nếu ABIC căn cứ kết quả giám định của SICO để áp dụng điều khoản loại trừ bảo hiểm cũng chưa chính xác, vì tại Báo cáo giám định cuối cùng, SICO cho rằng nguyên nhân là do “chấn động và dịch chuyển địa chất trong quá trình thi công Dự án” mà SICO không khẳng định địa chất bị dịch chuyển, chấn động thuộc khu vực nào: khu vực công trình hay khu vực các hộ dân lân cận?
Như vậy, ABIC phải căn cứ khoản 5.2 Điều 5 Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với bên thứ ba Hợp đồng bảo hiểm để đưa ra số tiền bồi thường cho Công ty N3 thì mới đúng thoả thuận hai bên và đúng quy định pháp luật về bảo hiểm, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người được bảo hiểm.
Quá trình giải quyết, Công ty N3 đã bồi thường tổn thất cho bên thứ ba với tổng số tiền là: 9.837.691.529 đồng, cụ thể các khoản như sau:
(1) Nhận thấy việc giám định tổn thất của SICO rất sơ sài, không khách quan và quy trình giám định không đảm bảo quy định của pháp luật nên Công ty N3 đã phối hợp UBND phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng ký Hợp đồng tư vấn khảo sát, đánh giá chất lượng công trình, xác định nguyên nhân sự cố và đề xuất biện pháp khắc phục với Công ty Cổ phần T8 (sau đây viết tắt là “Công ty T8”) với giá trị là: 1.658.755.000 đồng.
(2) Theo yêu cầu của các hộ dân bị ảnh hưởng và UBND phường A, đồng thời để bảo đảm nghĩa vụ bồi thường tổn thất cho các hộ dân trong thời gian chờ kết quả giám định của đơn vị giám định độc lập, Công ty N3 đã phát hành bảo lãnh ngân hàng với giá trị là: 69.386.302 đồng.
(3) Tiền thuê nhà thầu sửa chữa khắc phục nhà ở cho các công trình là: 139.333.277 đồng, trong đó: Thuê Công ty Cổ phần cọc khoan và kết cấu ngầm Fecon sửa chữa là 138.533.227 đồng; Thuê thợ khắc phục cửa kính cho nhà ông Lưu Văn H3 là 800.000 đồng.
(4) Tiền hỗ trợ sản xuất kinh doanh và thuê nơi ở tạm cho hộ ông Hồ Văn N bà Phan Thị N1 là: 26.751.000 đồng.
(5) Tiền 09 tháng thuê nhà ở mới cho hộ bà Huỳnh Thị N2 theo thông báo di dời khẩn cấp của UBND phường A là: 45.000.000 đồng.
(6)Tiền chi trả bồi thường cho 19 hộ dân lân cận bị ảnh hưởng bởi Dự án khách sạn với số tiền là: 7.898.466.000 đồng.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Công ty N3 đã khởi kiện yêu Tòa án giải quyết:
- Tuyên hủy Báo cáo giám định cuối cùng tổn thất tài sản bên thứ ba Dự án ngày 23/12/2021 của SICO cùng các Phụ lục đính kèm Báo cáo cuối cùng Dự toán khắc phục (đợt 1-4);
- Buộc ABIC trả số tiền bảo hiểm cho Công ty N3 theo khoản 5.2 Điều 5 Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với bên thứ ba của Hợp đồng bảo hiểm là: 9.837.691.529 đồng.
Sau khi nghiên cứu các kết quả giám định và hồ sơ bồi thường thiệt hại, Công ty N3 nhận thấy có 11 hộ dân đã được UBND phường A và Công ty N3 lập biên bản kiểm tra sự cố nứt nhà, đã được Công ty chi trả tiền bồi thường, không có dự toán của Công ty T8. Vì vậy, ngày 12/8/2024, Công ty N3 có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường cho 11 hộ dân này để bổ sung căn cứ, chứng cứ và sẽ khởi kiện ở vụ án khác, cụ thể theo bảng sau: STT
Nội dung
Số tiền (đồng) I
Chi phí bồi thường bằng tiền cho các hộ dân
2.808.466.000 1 Nhà bà Tôn Nữ Minh Trang
28.466.000 2 Nhà ông Nguyễn Đình Châu
70.000.000 3 Nhà ông bà Cao Thị Xuân - Nguyễn Hồng Phúc
100.000.000 4 Nhà ông bà Phan Cường - Nguyễn Thị Thanh Hằng
150.000.000 5 Nhà ông bà Phan Tiến - Trần Thị Kim Thúy
170.000.000 6 Nhà ông bà Đinh Xuân Lý - Bà Đặng Thị Nga
20.000.000 7 Nhà ông Đỗ Tri Phương
50.000.000 8 Nhà ông bà Nguyễn Văn Lộc - Nguyễn Như Ý
930.000.000 9 Nhà ông bà Phan Dũng - Võ Thị Xuân Tuyết
250.000.000 10 Nhà bà Đỗ Hoàng Bảo Uyên
630.000.000 11 Nhà ông bà Hồ Văn Nam - Phan Thị Nữ (cô Phượng)
410.000.000 II Chi phí thuê nhà thầu sửa chữa khắc phục
139.333.277
1 Thuê Công ty CP cọc khoan và kết cấu ngầm Fecon
138.533.227
(nhà thầu thi công Dự án) sửa chữa
2 Thuê thợ khắc phục cửa kính cho nhà ông Lưu Văn Hải
800.000 III Chi phí hỗ trợ khác: đến nơi ở tạm - ảnh hưởng sản
26.751.000
xuất kinh doanh
Nhà ông bà Hồ Văn Nam - Phan Thị Nữ (cô Phượng)
1 Hỗ trợ ảnh hưởng sản xuất kinh doanh
15.000.000
2 Đến nơi ở tạm
11.751.000
Tổng cộng giá trị rút yêu cầu khởi kiện (I+II+III):
2.974.550.227
Sau khi rút một phần yêu cầu khởi kiện như trên, Công ty N3 yêu cầu ABIC phải thanh toán cho ABIC số tiền mà Công ty N3 đã bồi thường tổn thất cho bên thứ ba gồm:
(1) Giá trị Hợp đồng tư vấn khảo sát với Công ty T8: 1.658.755.000 đồng;
(2) Giá trị phát hành bảo lãnh Ngân hàng là: 69.386.302 đồng;
(3) Tiền 09 tháng thuê nhà ở mới cho hộ bà Huỳnh Thị N2: 45.000.000 đồng;
(4) Tiền bồi thường cho 8 hộ dân lân cận bị ảnh hưởng bởi Dự án khách sạn theo Bảng tổng hợp dự toán công trình của Công ty T8 là: 4.723.403.942 đồng, cụ thể:
- Nhà ông Hồ Ngọc L2: 272.748.053 đồng;
- Kè đá nhà ông Đỗ Xuân C2: 162.071.676 đồng;
- Nhà ông Đỗ Xuân C2: 566.214.615 đồng;
- Nhà ông Nguyễn T2: 517.435.942 đồng;
- Nhà ông Nguyễn Quang T3: 145.574.960 đồng;
- Nhà bà Nguyễn Thị G (xây mới): 961.191.506 đồng;
- Nhà ông Cao V1 (xây mới): 927.933.628 đồng;
- Nhà bà Đỗ Thị Thương H4 (xây mới): 462.258.982 đồng;
- Nhà bà Huỳnh Thị N2 (xây mới): 725.329.963 đồng.
(5) Ngày 01/11/2021, Công ty N3 nhận tạm ứng bồi thường từ ABIC số tiền 500.000.000 đồng. Vì vậy, số tiền này được khấu trừ trong giá trị đề nghị bồi thường.
(6) Mức khấu trừ bảo hiểm theo khoản 8.2 Hợp đồng bảo hiểm là: 10.000.000 đồng/vụ.
Tổng cộng gồm các mục sau: (1) + (2) + (3) + (4) - (5) - (6) = 1.658.755.000 đồng + 69.386.302 đồng + 45.000.000 đồng + 4.723.403.942 đồng - 500.000.000 đồng - 10.000.000 đồng = 5.986.545.244 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Công ty N3 như sau:
- Tuyên hủy kết quả Báo cáo giám định cuối cùng tổn thất tài sản bên thứ ba Dự án khách sạn ngày 23/12/2021 cùng các Phụ lục đính kèm Báo cáo cuối cùng Dự toán khắc phục (đợt 1-4) của Công ty Cổ phần G1.
- Buộc ABIC chi trả số tiền bảo hiểm cho Công ty N3 theo khoản 5.2 Điều 5 Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với bên thứ ba Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng số 00729/19AD/KT/002/KD2 và sau khi đã đối trừ tạm ứng, khấu trừ bảo hiểm là: 5.986.545.244 đồng.
- Yêu cầu ABIC chịu chi phí Giám định kết quả của Báo cáo kiểm định, giám định công trình xây dựng của Trung tâm kiểm định và tư vấn xây dựng T8.
3. Tại các văn bản trình bày ý kiến, biên bản kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Bị đơn là Công ty Cổ phần B (ABIC) do đại diện hợp pháp trình bày:
3.1. Về diễn biến sự việc:
ABIC xác nhận ngày 16/7/2019, ABIC và Công ty N3 ký Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng số 00729/19AD/KT/002/KD2 với những nội dung như nêu trên.
Ngày 26/02/2020, ABIC nhận được thông báo của Công ty N3 về sự cố sụt lún đường dân sinh, một số nhà dân bị hư hỏng do việc thi công Dự án khách sạn G2. Ngày 09/3/2021 và ngày 14/4/2021, Công ty N3 tiếp tục thông báo tổn thất phát sinh thêm do việc thi công Dự án vẫn đang tiếp diễn.
Căn cứ Hợp đồng bảo hiểm, ABIC chỉ định đơn vị giám định độc lập là SICO để thực hiện giám định. Sau khi thống nhất kế hoạch giám định với Công ty N3, SICO tiến hành giám định hiện trường, xác định nguyên nhân, mức độ tổn thất vào ngày 03/3/2020. Quá trình SICO giám định có sự hỗ trợ giám sát của P. Tại lần giám định này, SICO ghi nhận việc khắc phục tạm thời phần đường bê tông và nền sân trước cửa nhà ông Nguyễn Đình C3 và nhà bà Cao Thị X. Do công trình đang trong quá trình thi công tường vây barrette nên các bên thống nhất sau khi hoàn thành thi công hai tầng hầm, Công ty N3 sẽ thông báo để tiến hành giám định tổn thất của 13 căn nhà bên thứ ba.
Từ ngày 20 đến ngày 23/10/2020, sau khi nhận được thông báo của Công ty N3, SICO tiếp tục giám định chi tiết tổn thất của 19 hộ dân và 01 đường bê tông dân sinh. Ngày 26/10/2020, SICO có văn bản số 240/2020-GĐTD đề nghị Công ty N3 cung cấp hồ sơ.
Ngày 25/01/2021, Công ty N3 gửi Công văn số 13/CV.NTĐL đề nghị ABIC cung cấp kết quả giám định tổn thất. Ngày 02/02/2021, ABIC có Công văn số 218/2021/CV-ABIC.HN-GĐBT phúc đáp.
Ngày 06/02/2021, Công ty N3 đã cung cấp cho SICO một số hồ sơ theo yêu cầu. Sau khi xem xét hồ sơ, ngày 25/02/2021, SICO tiếp tục có văn bản số 071/2021-GĐTD đề nghị Công ty N3 cung cấp hồ sơ còn thiếu. Ngày 8/3/2021, UBND tỉnh L có văn bản đình chỉ thi công công trình.
Ngày 09/3/2021, Công ty N3 thông báo tổn thất phát sinh bằng văn bản, ABIC đã yêu cầu SICO tiếp tục tiến hành giám định. Từ ngày 13/3 đến ngày 16/3/2021, giám định viên SICO đã tiến hành giám định bổ sung tổn thất 11 nhà dân và 03 công trình đường, trong đó có 01 nhà dân và 02 công trình đường mới phát sinh tổn thất mới, còn lại 08 nhà dân và 01 công trình đường đã được giám định lần trước nay gia tăng tổn thất.
Ngày 18/3/2021, ABIC và Công ty N3 đã tiến hành họp theo đề nghị của Công ty N3. Tại cuộc họp, ABIC nhất trí sẽ yêu cầu SICO cung cấp kết quả giám định cho Công ty N3.
Ngày 05/4/2021, SICO đã gửi dự toán khắc phục tổn thất của 20 căn nhà và 03 tuyến đường lân cận cho Công ty N3, theo đó tính toán giá trị tổn thất là 1.777.734.000 đồng, giới hạn trách nhiệm của điều khoản MR120 là 1.000.000.000 đồng.
Ngày 12/4/2021, UBND tỉnh L có văn bản cho phép Công ty N3 tiếp tục thi công phần còn lại của nền tầng hầm 2.
Ngày 14/4/2021, Công ty N3 tiếp tục thông báo tổn thất phát sinh qua email và yêu cầu ABIC cử cán bộ giám định tổn thất. Cùng ngày 14/4/2021, Công ty N3 gửi công văn thông báo về việc sẽ thuê đơn vị giám định độc lập khác để giám định tổn thất tài sản bên thứ ba và giám định công trình xây dựng.
Ngày 15/4/2021, Công ty N3 gửi email cho ABIC yêu cầu đơn vị giám định SICO tiếp tục giám định.
Ngày 20 và 21/4/2021, SICO tiếp tục tiến hành giám định bổ sung một số hộ dân bị tổn thất theo yêu cầu của Công ty N3. Tuy nhiên, khi chưa giám định hết số nhà dân có phát sinh thêm tổn thất thì việc giám định tạm dừng do Công ty N3 thuê đơn vị giám định theo yêu cầu của chính quyền địa phương.
Ngày 18/5/2021, Công ty N3 đã bồi thường cho 11/19 hộ dân với số tiền là 2.808.466.000 đồng và gửi bổ sung hồ sơ cho ABIC. SICO đã tiến hành tính toán số tiền thuộc trách nhiệm của Hợp đồng bảo hiểm trên cơ sở hồ sơ do Công ty N3 cung cấp. Theo tính toán của SICO, số tiền thuộc trách nhiệm bảo hiểm đối với 11 hộ dân này là 879.000.000 đồng.
Sau khi ABIC trao đổi với Công ty N3 về phương án tạm ứng số tiền bảo hiểm, SICO đã hướng dẫn Công ty N3 cung cấp hồ sơ và công văn đề nghị tạm ứng.
Ngày 10/6/2021, Công ty N3 gửi Công văn số 156/2021/NT/ĐL yêu cầu ABIC “đồng ý với báo cáo, kết quả do Công ty CP T9 và ĐT xây dựng Công ty T8 lập” và Giấy đề nghị tạm ứng số 157/2021NT-ĐL với tổng số tiền đề nghị tạm ứng là 4.467.221.000 đồng (trong đó: 2.808.466.000 đồng bồi thường cho 11 hộ dân và 1.658.755.000 đồng chi phí thuê Công ty T8 kiểm định xác định nguyên nhân gây ra sự cố công trình/đánh giá chất lượng hiện trạng công trình/đề ra biện pháp khắc phục). Ngày 15/6/2021, ABIC có công văn số 1282/2021/CV-ABIC.HN-GĐBT trả lời Công ty N3 khẳng định sẽ tính toán tổn thất và giải quyết bồi thường theo Báo cáo giám định của S.
Ngày 9/7/2021, Công ty N3 gửi văn bản lần 2 đề nghị tạm ứng, số tiền đề nghị là 4.467.221.000đ (các hộ dân 2.808.466.000 đồng, Công ty T8 1.658.755.000 đồng).
Ngày 22/9/2021, SICO gửi dự thảo Báo cáo tiếp theo đề xuất ABIC tạm ứng cho Công ty N3 500.000.000 đồng. Ngày 04/10/2021, ABIC có Thông báo số 1761/2021/TB-ABIC.HN-GĐBT thông báo tạm ứng bồi thường với số tiền là 500.000.000 đồng. Ngày 01/11/2021, Công ty N3 có văn bản số 302/2021.NT-ĐL và Người thụ hưởng A1 Chi nhánh H6 có văn bản số 560/NHNo.HV-KHKD đồng ý nhận số tiền tạm ứng nêu trên. Ngày 03/11/2021, ABIC thực hiện chuyển tiền tạm ứng cho Công ty N3.
Ngày 03/11/2021, Công ty N3 có văn bản số 320/2021.NT-ĐL đề nghị tăng mức tạm ứng bồi thường. Ngày 25/11/2021, ABIC có công văn số 2018/2021/CV-ABIC.HN-GĐBT trả lời sẽ yêu cầu SICO phát hành Báo cáo giám định cuối cùng và ABIC sẽ căn cứ Báo cáo giám định cuối cùng để giải quyết dứt điểm vụ việc.
Ngày 20/12/2021, Công ty N3 có công văn số 435/2021.NT-ĐL yêu cầu ABIC thông báo số tiền bồi thường theo Hợp đồng bảo hiểm.
Ngày 23/12/2021, SICO phát hành Báo cáo giám định cuối cùng.
Ngày 30/12/2021, ABIC phát hành Thông báo số 2317/2021/TB-ABIC.HN-GĐBT thông báo bồi thường với tổng số tiền bồi thường là 950.000.000 đồng (đã tạm ứng 500.000.000 đồng, còn lại 450.000.000 đồng).
3.2. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ABIC có ý kiến như sau:
* ABIC không đồng ý với yêu cầu khởi kiện: Tuyên hủy Báo cáo giám định cuối cùng của SICO vì:
Theo Điều 11 Hợp đồng bảo hiểm về Giám định tổn thất, SICO là đơn vị giám định có tên trong hợp đồng. SICO có ngành, nghề kinh doanh phù hợp với lĩnh vực giám định bảo hiểm đã được quy định trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần.
SICO là đơn vị giám định độc lập, được hai bên thống nhất lựa chọn thực hiện giám định tổn thất. Quá trình SICO thực hiện giám định đều có sự tham gia, phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu của nguyên đơn. Báo cáo giám định được SICO lập theo đúng quy định, đề xuất của SICO hoàn toàn độc lập, khách quan và không phương hại đến quyền lợi của các bên. Mặt khác, việc bồi thường được ABIC thực hiện theo quy định tại Hợp đồng bảo hiểm, Quy tắc bảo hiểm, các tài liệu liên quan và tổn thất thực tế. Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên hủy Báo cáo giám định cuối cùng của SICO là không có căn cứ.
* ABIC không đồng ý với yêu cầu khởi kiện: Buộc ABIC chi trả số tiền bảo hiểm là 5.986.545.244 đồng vì:
Đối với tổn thất tài sản bên thứ ba trong vụ việc này, ABIC và đơn vị giám định độc lập SICO xác định: Trong quá trình thi công hạng mục tường vây barrett đã tiến hành đào đất ở độ sâu từ -18.55m đến -21.20m, hút nước hố móng hạn mức nước ngầm dẫn đến dịch chuyển địa chất nền đất làm bộ phận chống đỡ bị chuyển dịch và thi công đập đầu cọc khoan nhồi gây chấn động cho các công trình xung quanh. Nguyên nhân gây ra thiệt hại đối với tài sản của bên thứ ba xung quanh công trình là do bộ phận chống đỡ bị chuyển dịch khi thi công phần móng và chấn động khi thi công cọc khoan nhồi.
Nguyên nhân gây ra tổn thất được xác định thuộc điểm loại trừ bảo hiểm quy định trong Quy tắc bảo hiểm. Tuy nhiên, Hợp đồng bảo hiểm còn áp dụng 42 Điều khoản bổ sung đính kèm Hợp đồng bảo hiểm, trong đó có điều khoản bổ sung MR120: Điều khoản bảo hiểm các chấn động, dịch chuyển, hoặc suy yếu của bộ phận chống đỡ (Giới hạn trách nhiệm: 1.000.000.000 đồng/mỗi và mọi vụ trong suốt thời hạn bảo hiểm. Mức khấu trừ 5% tổn thất, tối thiểu 50.000.000 đồng). Với việc trong Hợp đồng bảo hiểm có cấp điều khoản bổ sung MR120, nguyên nhân gây ra tổn thất tài sản của bên thứ ba của Dự án này sẽ được Nhà bảo hiểm xem xét giải quyết bồi thường theo điều khoản MR120.
ABIC giải quyết bồi thường trên cơ sở các quy định của Hợp đồng bảo hiểm, Quy tắc bảo hiểm, các tài liệu liên quan, tổn thất thực tế và trên cơ sở đề xuất trong Báo cáo giám định cuối cùng của đơn vị giám định độc lập SICO, đề xuất số tiền bồi thường là 950.000.000 đồng.
Do chi phí bồi thường khắc phục sự cố SICO tính toán theo điều khoản MR120 là 1.877.964.000 đồng, lớn hơn so với mức Giới hạn trách nhiệm của điều khoản này là 1.000.000.000 đồng. Mức khấu trừ áp dụng là 50.000.000 đồng. Vì vậy, số tiền bồi thường sau khi điều chỉnh mức khấu trừ là 1.000.000.000 đồng - 50.000.000 đồng = 950.000.000 đồng.
Các chi phí khác:
(1) Chi phí đến nơi ở tạm, ảnh hưởng sản xuất kinh doanh là 71.751.000 đồng. Đây là chi phí hợp lý có thể xem xét tính toán điều chỉnh theo điều khoản bổ sung MR120. Tuy nhiên do số tiền bồi thường đã vượt quá giới hạn trách nhiệm nên ABIC không tính toán chi phí này.
(2) Chi phí thuê nhà đầu tư khắc phục tạm các công trình là 139.333.227 đồng. Đây là chi phí đề phòng hạn chế tổn thất, nên không thuộc trách nhiệm của Hợp đồng bảo hiểm.
(3) Chi phí Công ty N3 thuê đơn vị giám định độc lập Công ty T8 với số tiền là: 1.658.755.000 đồng.
Trong vụ tổn thất này, căn cứ quy định của pháp luật, Hợp đồng bảo hiểm, ABIC đã chỉ định đơn vị giám định độc lập SICO thực hiện giám định tổn thất. Quá trình giám định của SICO đều có sự tham gia, phối hợp của nguyên đơn. Việc nguyên đơn chủ động thuê Công ty T8 thực hiện giám định mà không có thỏa thuận đồng ý của ABIC là không đúng Điều 48 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000. Nguyên đơn chỉ có quyền thuê Giám định viên độc lập theo thỏa thuận với ABIC hoặc theo yêu cầu của Tòa án nơi xảy ra tổn thất hoặc nơi cư trú của Người được bảo hiểm như quy định tại khoản 2 Điều 48 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000. Vì vậy, chi phí thuê Công ty T8, nguyên đơn phải tự chịu, không thuộc trách nhiệm của Hợp đồng bảo hiểm. Ngoài ra, ABIC cũng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu đòi chi phí giám định công trình xây dựng của Trung tâm kiểm định và tư vấn xây dựng T8.
Từ những lý do trên, ABIC đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty N3 đối với ABIC, đồng ý với phương án giải quyết bồi thường của ABIC.
4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm:
4.1. Công ty S trình bày:
Hoạt động giám định của SICO đối với tổn thất công trình Dự án khách sạn được thực hiện theo Luật Kinh doanh bảo hiểm và phục vụ hoạt động giám định bồi thường của doanh nghiệp B1. SICO có đầy đủ hồ sơ năng lực pháp lý, hồ sơ giám định viên và các chứng chỉ chuyên môn để thực hiện hoạt động giám định. Việc ABIC chỉ định SICO giám định đối với tổn thất nêu trên cũng đã được Công ty N3 biết và đồng ý.
* Đối với Báo cáo của Trung tâm kiểm định và tư vấn xây dựng T8, S có ý kiến:
Đối với hoạt động giám định tư pháp: Chỉ có hoạt động giám định của Trung tâm T8 (sau đây viết tắt là “Trung tâm T8”) theo quyết định trưng cầu giám định của Tòa án cấp sơ thẩm mới phải thực hiện theo quy định của Luật Giám định tư pháp và các quy định pháp luật có liên quan.
Đối với hoạt động giám định tổn thất theo Hợp đồng bảo hiểm: Tại thời điểm nguyên đơn và bị đơn ký kết Hợp đồng bảo hiểm (ngày 16/7/2019) và thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm (ngày 26/2/2020), văn bản pháp luật được áp dụng để thực hiện công tác giám định là Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000. Như vậy, việc SICO thực hiện giám định theo yêu cầu của ABIC đối với vụ tổn thất này là hoạt động giám định thương mại theo Hợp đồng bảo hiểm, không phải giám định tư pháp theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, Báo cáo giám định của Trung tâm T8 cho rằng: “Hồ sơ báo cáo giám định của SICO không phù hợp theo quy định của Luật Giám định tư pháp” là không đúng quy định của pháp luật.
* Về việc cho rằng SICO chưa đủ cơ sở pháp lý thực hiện công tác giám định do không cung cấp hồ sơ liên quan ở mục 6 Báo cáo giám định, SICO có ý kiến:
Về Hợp đồng giám định bảo hiểm: Giữa ABIC và SICO đã có Hợp đồng nguyên tắc và Giấy yêu cầu giám định ngày 28/02/2020 của ABIC gửi SICO.
Đối với quyết định phê duyệt đề cương, dự toán giám định, quyết định chỉ định thầu giám định, thông báo lựa chọn nhà thầu giám định, đề cương, dự toán giám định: Tại giấy yêu cầu giám định ngày 28/02/2020 của ABIC gửi SICO, ABIC đề nghị SICO tiến hành giám định tổn thất tài sản bên thứ ba theo Hợp đồng bảo hiểm với các nội dung: Xác định nguyên nhân tổn thất, xác định giá trị thiệt hại, tính toán điều chỉnh theo đơn bảo hiểm, khuyến cáo đề phòng hạn chế tổn thất.
Đối với quy trình, phương pháp thực hiện giám định: SICO đã thực hiện đầy đủ.
Đối với Quyết định phê duyệt quy trình, phương pháp thực hiện giám định: Căn cứ theo Hợp đồng nguyên tắc được ký kết giữa ABIC và SICO, SICO đã thực hiện đầy đủ.
Đối với năng lực Công ty, chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng của các cá nhân thực hiện công tác giám định, danh sách các cá nhân tham gia: SICO với kinh nghiệm hơn 20 năm trong lĩnh vực đánh giá rủi ro và thiệt hại (mã ngành 6621) cho các đơn vị bảo hiểm P1 trong nước, có trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật về hoạt động phụ trợ bảo hiểm và chịu sự giám sát của Bộ T10. Giám định viên Hoàng Văn Đ có chứng chỉ giám định tổn thất bảo hiểm với mã số 3.6.000.00239 và Giám định viên Trần Hoàng Đ1 có chứng chỉ giám định tổn thất bảo hiểm với mã số 3.6.000.00096 do Cục Q1 thuộc Bộ T10 cấp.
Đối với Nhật ký, báo cáo trong quá trình thực hiện giám định: Nội dung này được thể hiện tại mục “Diễn biến sự cố” trong lần lượt Báo cáo giám định sơ bộ, Báo cáo giám định tiếp theo và Báo cáo giám định cuối cùng.
Đối với Bản vẽ tổng thể khu vực bị ảnh hưởng, bản vẽ hiện trạng các đường giao thông, các nhà dân và các công trình khác bị ảnh hưởng (thể hiện quy mô, diện tích, các vết nứt...) trong công tác giám định: Nội dung này được thể hiện chi tiết tại các Biên bản giám định hiện trường do SICO lập và được các bên liên quan xác nhận.
Đối với các số liệu làm cơ sở tính toán như: số liệu quan trắc nghiêng, chuyển vị, lún; địa chất công trình; kết cấu công trình...: Hồ sơ Báo cáo kết quả khảo sát địa chất công trình, hồ sơ bản vẽ thiết kế thi công công trình đều do Công ty N3 cung cấp và được đính kèm tại Phụ lục báo cáo giám định tiếp theo tập 1/9 và tập 2/9.
Đối với Bảng dự toán chi tiết, các văn bản, hướng dẫn liên quan để áp dụng đơn giá trong dự toán: SICO đã căn cứ Biên bản giám định tổn thất do SICO lập; Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 9381:2012 - Hướng dẫn đánh giá mức độ nguy hiểm của kết cấu nhà; Thông tư số 15/2019/TT-BXD ngày 26/12/2019 của Bộ X1 về hướng dẫn xác định đơn giá nhân công trong xây dựng; Thông tư số 09/2019/TT-BXD ngày 26/12/2019 của Bộ X1 về hướng dẫn xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng; Thông tư số 10/2019/TT-BXD ngày 26/12/2019 của Bộ X1 về Ban hành định mức xây dựng; Thông tư số 11/2019/TT-BXD ngày 26/12/2019 của Bộ X1 về Hướng dẫn xác định giá ca máy và thiết bị thi công xây dựng; Quyết định số 159/QĐ-SXD ngày 15/10/2020 của Sở Xây dựng về việc Công bố đơn giá nhân công xây dựng, giá ca máy và thiết bị thi công xây dựng Quý IV năm 2020 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; Công bố giá vật liệu xây dựng, vật tư thiết bị trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng của L3 Sở Xây dựng - Sở Tài chính tỉnh L tại thời điểm giám định; Báo giá ở các cửa hàng, trang báo điện tử đáng tin cậy và các quy định khác.
4.2. Công ty Cổ phần B - Chi nhánh H5: Nhất trí với ý kiến trình bày của ABIC.
4.3. Ngân hàng N4 - Chi nhánh H6: đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để đến Tòa án thực hiện quyền và nghĩa vụ nhưng không đến Tòa án, không có bản tự khai trình bày ý kiến.
5. Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 51/2024/KDTM-ST ngày 19, 23/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội đã xử và quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty N3. Buộc ABIC phải trả cho Công ty N3 số tiền bảo hiểm là 5.986.545.244 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của Công ty N3 đối với ABIC về yêu cầu thanh toán chi phí Giám định kết quả của Báo cáo kiểm định, giám định công trình xây dựng của Trung tâm T8 và yêu cầu hủy kết quả Báo cáo giám định cuối cùng tổn thất tài sản bên thứ ba Dự án khách sạn G2 ngày 23/12/2021 cùng các Phụ lục đính kèm Báo cáo cuối cùng Dự toán khắc phục (đợt 1- 4) của SICO.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về việc thi hành án, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
6. Sau khi xét xử sơ thẩm, ABIC và SICO đã kháng cáo, trong đó:
6.1. ABIC kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm cho rằng:
* Về hoạt động giám định tổn thất bảo hiểm của SICO:
ABIC không đồng ý với bản án sơ thẩm khi cho rằng SICO không cung cấp đầy đủ hồ sơ giám định (như: nhật ký, đề cương, báo cáo quy trình giám định, đơn giá áp dụng) vì: Nhận định này dựa trên Báo cáo giám định tư pháp do Trung tâm T8 thực hiện theo Quyết định trưng cầu giám định của Tòa án sơ thẩm, trong khi Báo cáo này được ban hành khi chưa thu thập đầy đủ tài liệu từ SICO. Cụ thể, ngày 05/02/2024, SICO nhận được công văn của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy yêu cầu cung cấp tài liệu và SICO đã gửi tài liệu vào ngày 26/02/2024, nhưng trước đó, ngày 01/02/2024, Báo cáo giám định tư pháp đã hoàn thành khi chưa có đầy đủ tài liệu từ SICO. Việc Tòa án sơ thẩm gửi yêu cầu cung cấp tài liệu sau hơn 4 tháng kể từ khi trưng cầu giám định, đặc biệt là sau khi báo cáo đã được ban hành, thể hiện sự thiếu khách quan và không minh bạch.
Quyết định trưng cầu giám định và Công văn số 570 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy yêu cầu giám định: “Nguyên nhân, tổn thất của 19 căn nhà bên thứ ba và 03 đường giao thông lân cận công trình thi công Dự án…”. Tuy nhiên, Trung tâm T8 không giám định hiện trường để xác định nguyên nhân tổn thất mà chỉ dựa trên hồ sơ của SICO và Công ty T8 để kết luận rằng hồ sơ của SICO không phù hợp, còn hồ sơ của Công ty T8 cơ bản phù hợp theo Luật giám định tư pháp. Cách đánh giá này không đúng pháp luật và không phù hợp với nội dung trưng cầu giám định của Tòa án, bởi hoạt động giám định của SICO và Công ty T8 được thực hiện theo Luật Kinh doanh bảo hiểm, không phải theo Luật giám định tư pháp.
Tại Công văn số 118 ngày 04/3/2024, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Báo cáo giám định tư pháp “chưa đáp ứng được yêu cầu của Quyết định trưng cầu giám định” và yêu cầu Trung tâm T8 tiếp tục giám định nguyên nhân tổn thất. Tuy nhiên, tại Công văn số 16 ngày 19/3/2024, Trung tâm T8 lại trả lời không thể thực hiện việc này. Trong khi đó, tại thời điểm này SICO đã nộp đầy đủ hồ sơ cho Tòa án nhưng không được cung cấp cho Trung tâm T8 để xem xét, điều chỉnh Báo cáo giám định tư pháp, qua đó cho thấy sự thiếu minh bạch của Tòa án sơ thẩm trong việc đánh giá tính pháp lý đối với Báo cáo giám định cuối cùng của SICO và không có cơ sở để sử dụng Báo cáo này trong giải quyết vụ án.
Tại Công văn số 111 ngày 08/7/2024 của SICO và Công văn số 2576 ngày 17/7/2024 của ABIC về việc phản hồi Báo cáo giám định tư pháp, ABIC và SICO đã diễn giải đầy đủ hồ sơ, tài liệu chứng minh quá trình giám định của SICO là đúng pháp luật nhưng bản án sơ thẩm vẫn nhận định SICO không cung cấp được tài liệu là không phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, 2022 cùng các văn bản hướng dẫn không quy định cụ thể trình tự, thủ tục giám định tổn thất bảo hiểm. Tuy nhiên, SICO với hơn 20 năm kinh nghiệm đã thực hiện giám định theo quy trình chặt chẽ, phù hợp thực tiễn và thông lệ thị trường, bảo đảm minh bạch, chính xác, nên hoạt động giám định của SICO phù hợp với Hợp đồng bảo hiểm và Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000.
* ABIC không đồng ý bản án sơ thẩm cho rằng SICO cử cán bộ tham gia giám định khi chưa được cấp chứng chỉ Giám định viên:
Theo khoản 4 Điều 89a Nghị định 73/2016/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 80/2019/NĐ-CP) và khoản 1 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi năm 2019, đến ngày 01/11/2020 mới phát sinh yêu cầu bắt buộc về chứng chỉ. Tại các đợt giám định hiện trường đợt 1, đợt 2, các Giám định viên SICO đều có trình độ đại học phù hợp và nhiều năm kinh nghiệm, đáp ứng quy định pháp luật tại thời điểm đó; còn tại các đợt giám định sau và khi ký Báo cáo giám định cuối cùng ngày 23/12/2021, các Giám định viên đã có đầy đủ chứng chỉ theo quy định. Do đó, bản án sơ thẩm đã không xem xét quy định chuyển tiếp để đánh giá điều kiện hành nghề của Giám định viên, từ đó kết luận SICO thực hiện giám định khi chưa có chứng chỉ, là không đúng pháp luật.
* ABIC không đồng ý với bản án sơ thẩm khi buộc ABIC bồi thường số tiền 5.986.545.244 đồng cho Công ty N3 với các khoản:
- Giá trị hợp đồng tư vấn khảo sát với Công ty T8 là 1.658.000.000 đồng: ABIC không đồng ý bồi thường khoản này vì SICO là đơn vị giám định độc lập do hai bên thống nhất lựa chọn theo Hợp đồng bảo hiểm. Trước khi thực hiện, ABIC đã có văn bản đề nghị Công ty N3 cho ý kiến về việc lựa chọn SICO và không nhận được phản đối. Trong quá trình giám định, Công ty N3 đã phối hợp, cung cấp tài liệu với SICO và sử dụng kết quả giám định của SICO để bồi thường cho các hộ dân. Theo khoản 11.2 Điều 11 Hợp đồng bảo hiểm, Báo cáo giám định cuối cùng của SICO là căn cứ bồi thường, nên chi phí thuê Công ty T8 không thuộc trách nhiệm của ABIC. Hơn nữa, theo khoản 2 Điều 48 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, khi không đồng ý với Báo cáo giám định của SICO, Công ty N3 chỉ được thuê Giám định viên độc lập theo thỏa thuận với ABIC hoặc yêu cầu Tòa án chỉ định. Tại văn bản số 869 ngày 19/4/2021 và số 1282 ngày 15/6/2021, ABIC khẳng định chỉ sử dụng Báo cáo giám định cuối cùng của SICO làm căn cứ xác định phạm vi bảo hiểm, giải quyết bồi thường và lưu ý việc thuê Công ty T8 phải do Công ty N3 tự chịu chi phí. Do đó, việc nguyên đơn tự thuê Công ty T8 là không đúng thỏa thuận và quy định pháp luật, nên chi phí này không thuộc trách nhiệm của ABIC.
- Đối với khoản bồi thường cho 8 hộ dân là 4.723.000.000 đồng: ABIC cho rằng nguyên nhân thiệt hại thuộc trường hợp loại trừ bảo hiểm (do chấn động, dịch chuyển nền đất khi thi công), chỉ được xem xét theo điều khoản bổ sung MR120 với giới hạn trách nhiệm 1.000.000.000 đồng, nên mức bồi thường 950.000.000 đồng là phù hợp.
- Về chi phí phát hành bảo lãnh ngân hàng là 69.386.302 đồng: không thuộc phạm vi bảo hiểm, nên bản án sơ thẩm buộc ABIC phải bồi thường là không có căn cứ.
- Về chi phí thuê nhà tạm cho bà Huỳnh Thị N2 là 45.000.000 đồng: đây là chi phí hợp lý, tuy nhiên do ABIC chấp nhận bồi thường theo điều khoản MR120 là 950.000.000 đồng, đã hết giới hạn trách nhiệm nên ABIC không tính toán bồi thường chi phí này.
Từ những nội dung trên, ABIC đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu của nguyên đơn và chấp nhận ABIC bồi thường cho nguyên đơn với mức là 950.000.000 đồng theo Hợp đồng bảo hiểm.
6.2. SICO kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm khi nhận định Báo cáo giám định của SICO không đầy đủ hồ sơ, không phù hợp với Luật Giám định tư pháp và Giám định viên khi thực hiện giám định không có chứng chỉ Giám định viên. Về nội dung kháng cáo, SICO giữ nguyên như quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và thống nhất với nội dung kháng cáo của ABIC.
7. Tại phiên toà phúc thẩm:
7.1. ABIC và SICO giữ nguyên các ý kiến kháng cáo đã trình bày như nêu trên. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan còn lại không có ý kiến gì.
7.2 Công ty N3 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày ý kiến đối với yêu cầu kháng cáo của ABIC và SICO như sau:
* Về việc lựa chọn đơn vị giám định:
Hợp đồng bảo hiểm quy định khi tổn thất có tính chất phức tạp hoặc giá trị lớn thì các bên phải bàn bạc lựa chọn đơn vị giám định độc lập. Sự cố tại công trình Dự án khác sạn có giá trị thiệt hại lớn, ảnh hưởng nhiều hộ dân, phát sinh khiếu nại và có sự can thiệp của chính quyền địa phương nên thuộc trường hợp phải thống nhất lựa chọn đơn vị giám định. Tuy nhiên, ABIC đã đơn phương chỉ định SICO khi chưa có sự trao đổi với Công ty N3. Việc ABIC cho rằng Công ty N3 không phản đối có nghĩa là đồng ý, đây chỉ là ý chí đơn phương của ABIC, không có giá trị ràng buộc đối với Công ty N3. Hơn nữa, việc Công ty N3 phối hợp với SICO tại hiện trường chỉ nhằm xác nhận thực trạng, không có nghĩa là thừa nhận tư cách của SICO.
Do quá trình giám định kéo dài, ảnh hưởng đến đời sống người dân, mà SICO không đưa ra được kết luận nên Công ty N3 đã đề nghị thuê đơn vị giám định độc lập khác là Công ty T8 và ABIC đã chấp thuận cho thực hiện bằng chi phí của Công ty N3. Việc lựa chọn Công ty T8 còn phù hợp với chỉ đạo của chính quyền địa phương nhằm kịp thời khắc phục sự cố. Vì vậy, việc chỉ định SICO không phù hợp thỏa thuận trong hợp đồng, trong khi lựa chọn Công ty T8 là đúng quy định và có sự chấp thuận của các bên. Hơn nữa, Báo cáo giám định của Trung tâm T8 xác định hồ sơ của SICO không phù hợp quy định pháp luật về giám định tư pháp; còn hồ sơ của Công ty T8, là cơ sở xem xét giá trị pháp lý các kết luận giám định trong vụ án.
* Về nguyên nhân sự cố và điều khoản loại trừ bảo hiểm:
Hợp đồng bảo hiểm quy định bên bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba phát sinh trong quá trình thi công, trừ trường hợp thuộc điều khoản loại trừ. Mức trách nhiệm bảo hiểm đã được xác định cụ thể trong hợp đồng. Tuy nhiên, ABIC đang viện dẫn điều khoản loại trừ để hạn chế nghĩa vụ bồi thường, trong khi điều khoản này chỉ áp dụng đối với thiệt hại do chấn động hoặc do kết cấu, địa chất bị dịch chuyển hay suy yếu mang tính tự nhiên và phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Trường hợp dịch chuyển địa chất phát sinh từ hoạt động thi công không phải là nguyên nhân loại trừ. Theo quy định pháp luật và Hợp đồng bảo hiểm, nghĩa vụ chứng minh thuộc về ABIC và điều khoản phải được giải thích theo hướng có lợi cho Bên mua bảo hiểm, nên không có cơ sở chấp nhận quan điểm áp dụng điều khoản loại trừ của ABIC.
Đối chiếu các kết luận giám định, Báo cáo giám định của SICO thực chất đã mô tả các hoạt động thi công như: đào đất, hút nước, hạ mực nước ngầm, thi công cọc và tường vây là nguyên nhân dẫn đến lún, nứt công trình, còn chấn động và dịch chuyển địa chất chỉ là hệ quả tất yếu. Trong khi đó, báo cáo của Công ty T8 xác định nền đất tự nhiên ổn định, nguyên nhân sự cố xuất phát từ tác động cơ học của biện pháp thi công, đặc biệt là hệ tường vây và cọc neo gây lực ép, kéo làm dịch chuyển nền đất khu vực lân cận. Từ đó xác định nguyên nhân trực tiếp của sự cố là hoạt động thi công, không thuộc trường hợp loại trừ bảo hiểm, nên không có cơ sở chấp nhận kết luận của Báo cáo giám định SICO và quan điểm từ chối bồi thường của ABIC.
* Về phương pháp, tiêu chuẩn giám định và việc giám định hiện trường:
Báo cáo giám định SICO chủ yếu căn cứ Tiêu chuẩn TCVN 9381:2012 để đánh giá mức độ nguy hiểm của kết cấu nhà, trong khi Công ty T8 áp dụng đồng thời nhiều tiêu chuẩn quốc gia, trong đó cũng có TCVN 9381:2012. Do cùng sử dụng tiêu chuẩn này, đây là cơ sở để đối chiếu quy trình giám định giữa hai đơn vị. Kết quả cho thấy SICO không thực hiện đầy đủ các nội dung theo TCVN 9381:2012 như đánh giá độ lún, chuyển vị nền đất, cấu kiện kết cấu và mức độ nguy hiểm của công trình, trong khi Công ty T8 thực hiện đầy đủ các bước theo tiêu chuẩn.
Về phương pháp thực hiện: SICO chủ yếu dựa trên hồ sơ do Công ty N3 cung cấp, không khảo sát, quan trắc hay giám định hiện trường độc lập nên thiếu cơ sở khoa học và tính khách quan, đặc biệt đối với nội dung liên quan đến địa chất công trình. Ngược lại, Công ty T8 đã thực hiện đầy đủ giám định hiện trường, bao gồm quan trắc, khảo sát địa chất, đo đạc và kiểm định trực tiếp. Do đó, kết luận của SICO không đủ độ tin cậy để làm căn cứ giải quyết vụ việc, trong khi kết quả của Công ty T8 bảo đảm tính khách quan, độc lập và có giá trị sử dụng.
* Về năng lực giám định của tổ chức và Giám định viên:
Pháp luật quy định người và tổ chức thực hiện giám định phải đáp ứng điều kiện theo Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Thương mại và pháp luật xây dựng, theo đó phải có chuyên môn và chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng phù hợp với lĩnh vực giám định. Đối với vụ việc này, hoạt động giám định thuộc lĩnh vực xây dựng nên yêu cầu về chứng chỉ giám định tổn thất bảo hiểm là điều kiện bắt buộc. Tuy nhiên, SICO không cung cấp được chứng chỉ năng lực của tổ chức và cá nhân tại thời điểm thực hiện giám định, không tiến hành khảo sát hiện trường nên kết luận thiếu cơ sở khoa học và không đảm bảo giá trị pháp lý.
Ngược lại, Công ty T8 thực hiện kiểm định theo yêu cầu của cơ quan nhà nước, có đầy đủ hồ sơ pháp lý, chứng chỉ năng lực tổ chức và cá nhân, đồng thời thực hiện đầy đủ quy trình kiểm định, quan trắc, khảo sát và lập dự toán theo quy định. Ngoài ra, SICO còn không cung cấp đầy đủ hồ sơ theo yêu cầu của cơ quan kiểm định, sử dụng các tài liệu không đúng quy định để thay thế hồ sơ bắt buộc, không có dự toán chi tiết và thiếu căn cứ tính toán rõ ràng. Trong khi đó, hồ sơ của Công ty T8 đầy đủ, đúng trình tự và đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nên có đủ cơ sở để sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án.
* Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ABIC thanh toán số tiền nguyên đơn đã bồi thường thiệt hại cho 19 hộ dân. Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 12/8/2024, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường đối với 11 hộ dân, tương ứng số tiền 2.974.550.227 đồng. Lý do là các hộ này đã được kiểm tra hiện trạng và đã được nguyên đơn chi trả bồi thường nhưng không có dự toán của Công ty T8, nên cần bổ sung chứng cứ để khởi kiện ở vụ án khác.
* Về chi phí phát hành bảo lãnh ngân hàng là: 69.386.302 đồng:
Đây là phí bảo lãnh Công ty N3 phải trả cho Ngân hàng để Ngân hàng phát hành bảo lãnh cho nghĩa vụ bồi thường của Công ty N3 đối với các hộ dân. Vì vậy, yêu cầu ABIC phải có trách nhiệm trả cho Công ty N3 số tiền này.
* Về yêu cầu ABIC phải thanh toán chi phí giám định của Trung tâm T8:
Tại cấp sơ thẩm, mỗi bên đều có quan điểm khác nhau về các Báo cáo giám định của SICO và Công ty T8, nên Công ty N3 có đơn yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm trưng cầu giám định để đánh giá kết quả của hai Báo cáo này. Chi phí trưng cầu giám định này do Công ty N3 chi trả hết cho Trung tâm T8 theo Hợp đồng. Tòa sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu này của Công ty N3. Tuy nhiên Công ty N3 không kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm xác định tự nguyện chịu số tiền này, đồng ý như bản án sơ thẩm đã tuyên.
Từ những ý kiến trên, Công ty N3 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ABIC và SICO, giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm.
7.3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến như sau:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Đơn kháng cáo của ABIC và SICO làm trong hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp quy định của pháp luật và người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên xác định kháng cáo hợp lệ. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án phúc thẩm là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về việc giải quyết vụ án:
Công ty N3 là Chủ đầu tư Dự án Khách sạn G2 và đã ký Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng với ABIC, trong đó có bảo hiểm trách nhiệm đối với bên thứ ba. Trong quá trình thi công vào khoảng tháng 02/2020, công trình đã gây lún, nứt, hư hỏng cho 19 căn nhà các hộ dân và 03 tuyến đường giao thông xung quanh. Sau khi xảy ra sự cố, nguyên đơn đã phối hợp khắc phục, bồi thường thiệt hại và thuê đơn vị tư vấn, kiểm định để xác định nguyên nhân.
Công ty N3 cho rằng thiệt hại phát sinh trong quá trình thi công, thuộc phạm vi bảo hiểm theo hợp đồng và không thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, do đó khởi kiện yêu cầu ABIC phải bồi thường. ABIC không chấp nhận, cho rằng nguyên nhân thiệt hại do chấn động, dịch chuyển địa chất thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm và căn cứ Báo cáo giám định SICO để từ chối bồi thường.
Về các báo cáo giám định và chứng cứ: Tòa án cấp sơ thẩm đã trưng cầu T4 kiểm định Lâm Đồng giám định theo quy định tại Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc giám định thực hiện trên cơ sở hồ sơ của Báo cáo giám định SICO và Báo cáo kiểm định Công ty T8, thể hiện kết quả như sau:
- Đối với Báo cáo giám định SICO: Hồ sơ thể hiện SICO tiến hành giám định hiện trường công trình qua nhiều đợt và ban hành Báo cáo giám định cuối cùng ngày 23/12/2021, kết luận nguyên nhân tổn thất là do “chấn động, dịch chuyển địa chất trong quá trình thi công”, thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Tuy nhiên, có căn cứ xác định tại thời điểm thực hiện giám định ban đầu ngày 03/3/2020 và từ ngày 20/10/2020 đến ngày 23/10/2020, các cá nhân trực tiếp giám định là ông Hoàng Văn Đ và ông Trần Hoàng Đ1 chưa được cấp Chứng chỉ giám định tổn thất bảo hiểm theo quy định pháp luật. Mặc dù các cá nhân này đã được cấp chứng chỉ tại thời điểm ký Báo cáo giám định cuối cùng, nhưng kết luận giám định được hình thành trên cơ sở toàn bộ quá trình giám định, bao gồm cả giai đoạn thực hiện khi chưa đủ điều kiện pháp lý. Đồng thời, theo Báo cáo giám định tư pháp của Trung tâm T8, hồ sơ Báo cáo giám định SICO được xác định là không phù hợp với quy định của Luật Giám định tư pháp và các quy định pháp luật có liên quan. Do đó, có cơ sở xác định Báo cáo giám định SICO chưa bảo đảm giá trị pháp lý để làm căn cứ chấp nhận quan điểm từ chối trách nhiệm bảo hiểm của bị đơn.
- Đối với Báo cáo kiểm định của Công ty T8 xác định nguyên nhân sự cố là do giải pháp kết cấu và biện pháp thi công gây dịch chuyển nền đất, dẫn đến nứt, lún công trình lân cận. Mặc dù đây là hồ sơ kiểm định do nguyên đơn cung cấp, không phải kết luận giám định tư pháp theo trưng cầu của Tòa án, nhưng được xem là chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, theo Báo cáo giám định tư pháp của Trung tâm T8, hồ sơ kiểm định của Công ty T8 được đánh giá là phù hợp quy định pháp luật về giám định, kiểm định xây dựng. Sau đó, Tòa án tiếp tục yêu cầu Trung tâm T8 xác định nguyên nhân gây ra sự cố tổn thất, tuy nhiên Trung tâm T8 trả lời không thể thực hiện đầy đủ nội dung giám định do: sự cố đã xảy ra từ năm 2020, hiện trạng công trình không còn nguyên trạng và thiệt hại đã được khắc phục, hiện trường không còn như ban đầu. Trong điều kiện hiện trường không còn, việc tiếp tục trưng cầu giám định bổ sung là không khả thi. Vì vậy, Tòa án sơ thẩm giải quyết vụ án trên cơ sở đánh giá toàn diện các chứng cứ hiện có là phù hợp quy định pháp luật.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: ABIC căn cứ Báo cáo giám định SICO để từ chối trách nhiệm bảo hiểm. Tuy nhiên, Báo cáo này không bảo đảm giá trị pháp lý nên không đủ căn cứ chấp nhận. Trong khi đó, các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện sự cố xảy ra trong quá trình thi công và không thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo hợp đồng là có căn cứ pháp luật.
- Xét kháng cáo của ABIC và SICO: Các bên cho rằng Báo cáo giám định SICO có giá trị pháp lý và Tòa án sơ thẩm đánh giá chứng cứ chưa khách quan. Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ trong hồ sơ, việc không chấp nhận Báo cáo giám định SICO và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật.
- Về việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện: Tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn đã có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đòi số tiền 2.974.550.227 đồng. Việc rút một phần yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật và được cấp sơ thẩm chấp nhận. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm chưa tuyên đình chỉ giải quyết là thiếu sót. Do đó, cần thiết sửa bản án sơ thẩm theo đó bổ sung việc đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu đã rút của nguyên đơn.
Từ phân tích trên, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây viết tắt là “BLTTDS”), Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của ABIC và SICO; Sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên, theo đó bổ sung nội dung đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút; Về án phí: Người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe các bên đương sự tranh tụng, trình bày và tranh luận, quan điểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
I. Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 16/11/2022, Công ty Cổ phần N3 khởi kiện Công ty Cổ phần B (ABIC), có trụ sở tại: Tầng F Tòa nhà B, đường H, phường T, quận C, thành phố Hà Nội yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ABIC phải trả số tiền bảo hiểm theo Hợp đồng bảo hiểm và hủy Báo cáo giám định SICO. Đây là tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng bảo hiểm giữa hai pháp nhân có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, nay là Toà án nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ABIC và SICO đã kháng cáo bản án sơ thẩm. Xét thấy, ABIC và SICO kháng cáo trong thời hạn luật định, đơn do người đại diện hợp pháp ký và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên căn cứ các Điều: 272, 273, 274, 276 BLTTDS, xác định đơn kháng cáo là hợp lệ và Tòa nhân dân thành phố H thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm là đúng thẩm quyền.
Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị kháng cáo toàn bộ nên căn cứ Điều 293 BLTTDS, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xem xét lại toàn bộ vụ án cả về nội dung và tố tụng.
Về việc ngày 02/4/2026, Ngân hàng N4 - Chi nhánh H6 có Đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan từ Ngân hàng N4 - Chi nhánh H6 sang Ngân hàng N4 - Chi nhánh T11 vì lý do ngày 26/01/2026 giữa hai Chi nhánh có bàn giao hồ sơ khoản nợ của Công ty Cổ phần N3: Xét thấy đây là việc bàn giao nội bộ giữa hai Chi nhánh Ngân hàng, không thuộc trường hợp thay đổi tư cách đương sự theo quy định của pháp luật. Hơn nữa, ngoài đơn đề nghị trên, Ngân hàng N4 - Chi nhánh H6 không cung cấp bất kỳ tài liệu nào khác chứng minh tính có căn cứ pháp lý cho việc thay đổi tư cách đương sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đề nghị nêu trên. Tại phiên tòa, Ngân hàng N4 - Chi nhánh H6 vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 BLTTDS, tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án theo quy định.
II. Về nội dung xét kháng cáo:
1. Về hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm:
Công ty N3 là Chủ đầu tư Dự án Khách sạn G2 tại Lô A, khu T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay thuộc phường X, tỉnh Lâm Đồng). Ngày 16/7/2019, Công ty N3 và ABIC đã ký Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng số 00729/19AD/KT/002/KD2 cho Dự án Khách sạn G2, với đối tượng bảo hiểm là toàn bộ quá trình thi công xây dựng công trình và trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba. Người được bảo hiểm gồm Chủ đầu tư và các nhà thầu liên quan, người thụ hưởng là Ngân hàng N4 - Chi nhánh H6. Hợp đồng bảo hiểm đối với các tổn thất vật chất mang tính bất ngờ, không lường trước và trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba, trừ các trường hợp loại trừ. Việc giám định tổn thất do các bên phối hợp thực hiện, trường hợp phức tạp có thể thuê tổ chức giám định độc lập và kết quả giám định là căn cứ để bồi thường.
Xét thấy Hợp đồng bảo hiểm được ký kết bằng văn bản giữa các pháp nhân có đăng ký kinh doanh, do người đại diện hợp pháp của các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, nội dung hợp đồng quy định về đối tượng bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm, điều khoản loại trừ, mức trách nhiệm, thời hạn bảo hiểm, phí bảo hiểm và quyền, nghĩa vụ của các bên..., không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Quá trình giải quyết vụ án, các bên đều thừa nhận việc ký kết và nội dung hợp đồng, nguyên đơn đã đóng phí bảo hiểm, bị đơn đã tiếp nhận thông báo tổn thất, tiến hành giám định và thực hiện tạm ứng bồi thường. Do đó, căn cứ các Điều 12, 13, 14, 15, 17, 18, 52 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010 (sau đây gọi là “Luật Kinh doanh bảo hiểm”) và Điều 117, 385, 398, 401 Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định Hợp đồng bảo hiểm nêu trên có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
2. Về sự kiện bảo hiểm và các Báo cáo giám định, kiểm định:
Trong quá trình thi công Dự án Khách sạn G2, ngày 26/02/2020 đã xảy ra sự cố sụt lún, nứt, hư hỏng đối với 19 căn nhà các hộ dân và 03 đường giao thông lân cận. Sau khi sự cố phát sinh, Công ty N3 đã thông báo tổn thất cho ABIC. Trên cơ sở đó, ABIC đã tiến hành các thủ tục giải quyết bồi thường và tổ chức giám định theo Hợp đồng bảo hiểm.
Ngay sau khi nhận được thông báo sự cố, ABIC đã chỉ định SICO là đơn vị giám định theo thỏa thuận trong Hợp đồng bảo hiểm để tiến hành giám định nguyên nhân và mức độ tổn thất. SICO thực hiện giám định qua nhiều đợt từ tháng 3/2020 đến tháng 4/2021, lập các Báo cáo giám định sơ bộ và ban hành “Báo cáo giám định cuối cùng tổn thất tài sản bên thứ ba - Dự án khách sạn G2 ngày 23/12/2021” (sau đây viết tắt là “Báo cáo giám định SICO”), theo đó kết luận: “Nguyên nhân tổn thất là do chấn động và dịch chuyển địa chất trong quá trình thi công “Dự án Khách sạn G2 thuộc Trung tâm trưng bày, mua bán và cung cấp dịch vụ hậu mãi theo tiêu chuẩn toàn cầu của T1 gây ra””. Từ đó, ABIC xác định nguyên nhân tổn thất trên thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định tại điểm 3 phần II Quy tắc bảo hiểm và đề xuất bồi thường theo điều khoản MR120 kèm theo Quy tắc Bảo hiểm với giới hạn trách nhiệm là 950.000.000 đồng.
Cùng với quá trình trên, trước tính chất phức tạp của sự cố và theo yêu cầu, chỉ đạo của cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương (là U), Công ty N3 và UBND phường A, TP Đ (Bên giao thầu) đã ký hợp đồng với Công ty T8 (Bên nhận thầu) để thực hiện khảo sát, kiểm định, đánh giá chất lượng công trình, xác định nguyên nhân sự cố và đề xuất biện pháp khắc phục. Đơn vị này đã tiến hành khảo sát hiện trường, đo đạc, quan trắc, thu thập tài liệu địa chất, thực hiện thí nghiệm và tính toán kỹ thuật theo quy trình, quy chuẩn chuyên ngành xây dựng. Ngày 17/12/2021, Công ty T8 đã ban hành “Báo cáo kiểm định đánh giá chất lượng công trình” (sau đây viết tắt là “Báo cáo kiểm định Công ty T8”) theo đó xác định nguyên nhân gây ra sự cố là do: “Hệ kết cấu công trình (tường vây, khung, cột dầm sàn bê tông cốt théo toàn khối) hệ thống móng chọn giải pháp là móng bè trên nền đất tự nhiên, hệ thống vách tường vây dùng cọc neo tạo ra một lực ép, kéo nền đất nén chặt lại phía cọc vây, từ đó gây ra các vết kéo đứt của nền đất gây dịch chuyển và nứt nẻ một số nhà trên vùng kéo (nén) của cọc vây, gây ra sự cố sụt lún, ảnh hưởng đến công trình nhà ở của các hộ dân lân cận”.
Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án cấp sơ thẩm đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với Trung tâm T8 (được viết tắt là “Trung tâm T8”) thực hiện giám định tư pháp. Ngày 01/02/2024, Trung tâm T8 đã ban hành “Giám định kết quả báo cáo kiểm định, giám định công trình xây dựng” (sau đây viết tắt là “Báo cáo giám định tư pháp”). Báo cáo này đánh giá hồ sơ Báo cáo giám định SICO không phù hợp theo quy định của Luật giám định tư pháp và các quy định khác có liên quan trong công tác kiểm định, giám định và đánh giá hồ sơ Báo cáo kiểm định Công ty T8 là phù hợp theo quy định của Luật giám định tư pháp và các quy định khác có liên quan trong công tác kiểm định, giám định. Sau đó, Tòa án tiếp tục yêu cầu Trung tâm T8 thực hiện giám định nguyên nhân gây ra sự cố tổn thất. Tuy nhiên Trung tâm T8 đã có văn bản trả lời không thể thực hiện đầy đủ nội dung giám định với lý do khách quan: sự cố xảy ra từ năm 2021, các hộ dân đã khắc phục xong thiệt hại và nhận bồi thường, hiện trạng công trình và các công trình lân cận không còn như ban đầu. Trong điều kiện hiện trường không còn, việc tiếp tục trưng cầu giám định bổ sung là không khả thi về mặt thực tế.
Xét thấy, đây là vụ án tranh chấp về xác định trách nhiệm bảo hiểm trong Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng, phát sinh từ sự cố xảy ra trong quá trình thi công công trình xây dựng là Dự án Khách sạn G2. Để giải quyết vụ án, việc làm rõ nguyên nhân tổn thất, mức độ thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động thi công và thiệt hại thực tế là yếu tố quyết định. Vì vậy, việc tiến hành giám định nguyên nhân sự cố, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ra sự cố công trình là cần thiết và phù hợp với Điều 119 Luật Xây dựng năm 2014. Qua đó, làm cơ sở đối chiếu với các điều khoản của Hợp đồng bảo hiểm và Quy tắc bảo hiểm để xác định sự kiện bảo hiểm, phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm (nếu có), cũng như quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan để xác định trách nhiệm của doanh nghiệp B1 đối với thiệt hại phát sinh.
Tuy nhiên, giám định tổn thất bảo hiểm và kiểm định, giám định sự cố công trình xây dựng là những hoạt động chuyên môn kỹ thuật, phải được thực hiện bởi tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực, theo đúng trình tự, phương pháp, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành. Theo Điều 6 Luật Xây dựng năm 2014; Điều 2, 45, 46, 47 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ, việc kiểm định chất lượng công trình và giám định nguyên nhân sự cố phải được thực hiện trên cơ sở khảo sát hiện trường, thu thập hồ sơ, quan trắc, thí nghiệm, tính toán, phân tích và đánh giá khoa học. Đồng thời, theo Điều 48 Luật Kinh doanh bảo hiểm, việc giám định tổn thất bảo hiểm phải bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan và do tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện thực hiện. Vì vậy, chỉ những kết luận giám định, kiểm định được thực hiện đúng quy định pháp luật, bảo đảm tính khoa học và khách quan mới có giá trị chứng minh, chứng cứ để Tòa án xác định trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm trong vụ án này.
3. Xét việc lựa chọn đơn vị giám định SICO:
Theo Hợp đồng bảo hiểm, việc ABIC chỉ định SICO thực hiện giám định tổn thất là phù hợp thỏa thuận tại Điều 11.2, theo đó SICO là một trong các tổ chức giám định độc lập được lựa chọn khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, nên các bên có nghĩa vụ tôn trọng, thực hiện. Đối với ý kiến của ABIC cho rằng Công ty N3 không có ý kiến phản đối việc chỉ định SICO có nghĩa là đã chấp thuận hoặc ý kiến của Công ty N3 về việc các bên chưa có sự thống nhất lựa chọn SICO, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: quyền lựa chọn SICO làm đơn vị giám định đã được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng bảo hiểm, không phụ thuộc vào việc có hay không có ý kiến phản đối hay thỏa thuận lại tại thời điểm phát sinh sự kiện bảo hiểm. Tuy nhiên, việc một tổ chức giám định được lựa chọn theo thỏa thuận trong hợp đồng không đồng nghĩa với việc kết luận giám định của tổ chức đó đương nhiên có giá trị làm căn cứ giải quyết vụ án. Giá trị chứng minh của kết luận giám định phải được xem xét, đánh giá trên cơ sở tuân thủ quy định pháp luật về điều kiện của người giám định, trình tự và phương pháp giám định, cũng như tính khách quan và căn cứ khoa học của kết luận giám định. Do đó, mặc dù việc ABIC chỉ định SICO thực hiện giám định là phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng bảo hiểm, nhưng giá trị pháp lý và giá trị chứng minh của Báo cáo giám định SICO vẫn phải được Tòa án xem xét, đánh giá toàn diện, khách quan cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án theo quy định của pháp luật.
4. Xét các Báo cáo giám định, kiểm định:
4.1. Đối với Báo cáo giám định SICO:
Mặc dù SICO là tổ chức được ABIC chỉ định thực hiện giám định theo Hợp đồng bảo hiểm và có Hợp đồng nguyên tắc với ABIC nhưng quá trình thực hiện giám định không bảo đảm các điều kiện pháp lý và chuyên môn theo quy định. Cụ thể, SICO không cung cấp được đề cương kiểm định, nhật ký giám định, quy trình thực hiện, cũng như các số liệu quan trắc, dữ liệu địa chất, kết cấu công trình làm cơ sở cho kết luận giám định, đồng thời không có bảng dự toán chi tiết và căn cứ áp dụng đơn giá trong quá trình thực hiện.
Ngoài ra, tại thời điểm tiến hành giám định hiện trường đợt 1 vào ngày 03/3/2020 và đợt 2 từ ngày 20/10/2020 đến ngày 23/10/2020, SICO đã cử ông Trần Hoàng Đ1 và ông Hoàng Văn Đ trực tiếp thực hiện hoạt động giám định và ký Báo cáo giám định sơ bộ ngày 27/10/2020. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện giám định và ký báo cáo, các cá nhân này chưa được cấp Chứng chỉ giám định tổn thất bảo hiểm theo quy định của pháp luật, đến ngày 04/02/2021 mới được cơ quan có thẩm quyền cấp Chứng chỉ. Trong khi đó, theo Điều 48 Luật Kinh doanh bảo hiểm, việc giám định tổn thất bảo hiểm phải được thực hiện bởi tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Việc SICO cử người trực tiếp thực hiện giám định khi chưa được cấp Chứng chỉ giám định tổn thất bảo hiểm là không phù hợp với quy định nêu trên, ảnh hưởng đến tính hợp pháp và độ tin cậy của kết luận giám định.
Về nội dung, Báo cáo giám định SICO không xác định được nguyên nhân trực tiếp gây ra sự cố mà chỉ mô tả hiện tượng “chấn động, dịch chuyển địa chất” trong quá trình thi công, không phân tích cơ chế tác động kỹ thuật cụ thể, không làm rõ các yếu tố như giải pháp móng, tường vây, cọc neo hay điều kiện địa chất nền, cũng như không chứng minh được mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hoạt động thi công và thiệt hại đối với các công trình lân cận.
Đối với ý kiến của ABIC và SICO cho rằng SICO đã có Văn bản số 111/2024-GĐTD ngày 08/7/2024 giải trình về hồ sơ giám định nhưng bản án sơ thẩm vẫn nhận định SICO không cung cấp đầy đủ tài liệu, Hội đồng thấy rằng: Việc giải trình này không khắc phục được các thiếu sót cơ bản trong quá trình giám định, đặc biệt là vi phạm điều kiện hành nghề của Giám định viên và việc không tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục, phương pháp giám định, kiểm định theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Bên cạnh đó, theo Báo cáo giám định tư pháp của Trung tâm T8 được thực hiện theo quyết định trưng cầu giám định của Tòa án, hồ sơ giám định của SICO được xác định là không phù hợp với quy định của pháp luật về giám định, kiểm định xây dựng.
Từ các phân tích nêu trên thấy Báo cáo giám định của SICO chưa bảo đảm tính hợp pháp, khách quan và căn cứ khoa học, nên chưa đủ cơ sở để làm căn cứ xác định nguyên nhân sự cố và trách nhiệm bồi thường bảo hiểm trong vụ án.
* Về việc nguyên đơn yêu cầu hủy Báo cáo giám định SICO, thấy: Báo cáo giám định của SICO là kết luận mang tính chuyên môn, được lập bởi đơn vị giám định độc lập để xác định nguyên nhân tổn thất, mức độ thiệt hại và căn cứ bồi thường bảo hiểm. Theo Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự, Kết luận giám định là một trong những nguồn chứng cứ cần được xem xét, đánh giá khi giải quyết vụ án, nhưng không phải là quyết định hành chính cá biệt thuộc đối tượng khởi kiện yêu cầu hủy trong vụ án dân sự hoặc kinh doanh thương mại. Do đó, Tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy Báo cáo giám định SICO của nguyên đơn là có căn cứ.
4.2. Đối với Báo cáo kiểm định của Công ty T8:
Tại khoản 1 Điều 119 Luật Xây dựng quy định: “Trong quá trình thi công xây dựng, vận hành, khai thác sử dụng công trình nếu phát hiện nguy cơ mất an toàn, nguy cơ xảy ra sự cố công trình ảnh hưởng đến an toàn tính mạng, công trình lân cận và cộng đồng thì chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, chủ quản lý sử dụng công trình, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm sau: ….b) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức giám định nguyên nhân sự cố, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ra sự cố công trình”. Mặc dù Công ty T8 không phải là cơ quan giám định được các bên thỏa thuận lựa chọn trong hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên trước tính chất phức tạp của sự cố công trình xây dựng và theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương, Công ty N3 ký hợp đồng với Công ty T8 để thực hiện khảo sát, kiểm định, đánh giá chất lượng công trình, xác định nguyên nhân sự cố, đề xuất biện pháp khắc phục là kịp thời, cần thiết và phù hợp với quy định nêu trên.
Ngày 17/12/2021, Công ty T8 đã ban hành Báo cáo kiểm định đánh giá chất lượng công trình. Báo cáo này được lập trên cơ sở khảo sát hiện trạng công trình, thu thập tài liệu và số liệu địa chất, thực hiện quan trắc lún, thí nghiệm vật liệu, đồng thời phân tích kết cấu theo đúng quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành xây dựng, bảo đảm thực hiện đúng các quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng, thi công xây dựng công trình tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ. Quá trình thực hiện có xây dựng đề cương kiểm định, khảo sát hiện trạng, đối chiếu hồ sơ thiết kế, tính toán kiểm tra khả năng chịu lực của hệ kết cấu và đánh giá ảnh hưởng của biện pháp thi công đối với nền đất và các công trình lân cận. Việc kiểm định được thực hiện bởi tổ chức có chức năng hoạt động kiểm định xây dựng, với đội ngũ cá nhân thực hiện có chuyên môn, năng lực phù hợp theo quy định pháp luật. Trên cơ sở đó, Báo cáo đưa ra kết luận dựa trên các số liệu, tài liệu và phân tích kỹ thuật cụ thể, bảo đảm tính khách quan và có căn cứ để thẩm tra, xác minh độc lập.
Về nội dung, Báo cáo này xác định nguyên nhân sự cố xuất phát từ giải pháp kết cấu và biện pháp thi công trong quá trình xây dựng, gây dịch chuyển nền đất, dẫn đến hiện tượng nứt, lún các công trình nhà ở xung quanh. Kết luận này phù hợp với diễn biến thực tế của sự cố, đồng thời thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa nguyên nhân và hậu quả về mặt kỹ thuật. Nội dung kết luận không chỉ mô tả hiện tượng mà còn phân tích cơ chế tác động, có đối chiếu với điều kiện địa chất và đặc điểm kết cấu công trình.
Hơn nữa, Báo cáo giám định tư pháp của Trung tâm T8 cũng kết luận hồ sơ kiểm định, đánh giá chất lượng công trình đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật về giám định và kiểm định xây dựng. Do đó, Báo cáo kiểm định của Công ty T8 bảo đảm phù hợp quy định pháp luật, khách quan và khoa học, nên có giá trị chứng minh nguyên nhân sự cố và trách nhiệm bảo hiểm trong vụ án.
4.3. Đối với Báo cáo giám định tư pháp của Trung tâm T8:
Báo cáo giám định tư pháp của Trung tâm T8 được thực hiện theo Quyết định trưng cầu giám định của Tòa án cấp sơ thẩm trên cơ sở sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kiểm tra, đánh giá, kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan khi giải quyết vụ việc dân sự. Theo khoản 1 Điều 26 Luật Giám định tư pháp, kết luận giám định tư pháp là nguồn chứng cứ độc lập được sử dụng để xem xét, đánh giá củng cố chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, trong vụ án này, Báo cáo giám định tư pháp của Trung tâm T8 là căn cứ khách quan để đối chiếu, kiểm chứng và củng cố thêm việc xem xét, đánh giá giá trị chứng cứ của Báo cáo giám định SICO và Báo cáo kiểm định Công ty T8.
Trên cơ sở đó, Báo cáo giám định tư pháp xác định Báo cáo giám định SICO chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của pháp luật về giám định và kiểm định xây dựng, do thiếu các dữ liệu kỹ thuật quan trọng, hồ sơ và quy trình thực hiện chưa đầy đủ, không có căn cứ rõ ràng về việc áp dụng đơn giá, dự toán, đồng thời trong một số giai đoạn, người thực hiện giám định chưa được cấp Chứng chỉ Giám định viên tổn thất bảo hiểm theo quy định. Ngược lại, Báo cáo kiểm định Công ty T8 được thực hiện đúng quy định của pháp luật và quy trình chuyên môn. Báo cáo có đầy đủ hồ sơ pháp lý, dữ liệu khảo sát, quan trắc, thí nghiệm và phương pháp phân tích kỹ thuật; việc lập dự toán, áp dụng đơn giá được thực hiện theo các quy định hiện hành. Đồng thời, tổ chức thực hiện có đầy đủ năng lực chuyên môn, cá nhân trực tiếp tham gia kiểm định có chứng chỉ hành nghề phù hợp theo quy định.
* Đối với ý kiến kháng cáo của ABIC cho rằng Báo cáo giám định tư pháp không thực hiện đầy đủ nội dung trưng cầu của Tòa án do chưa xác định nguyên nhân sự cố, Hội đồng xét xử thấy: Việc giám định tư pháp được tiến hành trong điều kiện hiện trường đã thay đổi, hiện trạng công trình xây dựng và công trình lân cận không còn như ban đầu, các thiệt hại đã được khắc phục, nên việc giám định nguyên nhân tổn thất là không khả thi. Trong bối cảnh đó, việc Trung tâm T8 đánh giá giá trị pháp lý, mức độ tin cậy của các tài liệu trong hồ sơ và xác định tính phù hợp của các báo cáo kiểm định, giám định là phù hợp với thực tế vụ án và có giá trị làm căn cứ giải quyết tranh chấp.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm sử dụng Báo cáo kiểm định của Công ty Cổ phần T8 làm cơ sở xác định nguyên nhân sự cố công trình Dự án khách sạn G2 là có căn cứ và phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
5. Về nguyên nhân tổn thất và trách nhiệm bồi thường:
5.1. Về nguyên nhân tổn thất:
Báo cáo kiểm định Công ty T8 xác định nguyên nhân gây ra sự cố công trình là do: “Hệ kết cấu công trình (tường vây, khung, cột dầm sàn bê tông cốt thép toàn khối), hệ thống móng chọn giải pháp là móng bè trên nền đất tự nhiên, hệ thống vách tường vây dùng cọc neo; dựa vào kết quả tính toán kiểm tra khả năng chịu lực của hệ kết cấu, do ứng suất của cọc neo tạo ra một lực ép, kéo nền đất nén chặt lại phía cọc vây, từ đó gây ra các vết kéo đứt của nền đất, gây dịch chuyển và nứt nẻ một số nhà trên vùng kéo (nén) của cọc vây, gây ra sự cố sụt lún, ảnh hưởng đến công trình nhà ở của các hộ dân lân cận”. Như vậy, đây là sự cố phát sinh trong quá trình thi công công trình xây dựng, xuất phát từ tác động của hệ kết cấu công trình và biện pháp thi công đến nền đất xung quanh, dẫn đến nứt, lún các công trình lân cận. Căn cứ Hợp đồng bảo hiểm, thiệt hại phát sinh từ nguyên nhân nêu trên không thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm mà thuộc phạm vi bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba. Nguyên nhân phát sinh từ việc thi công này cũng phù hợp với chính kết luận tại Báo cáo giám định SICO cũng như trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm. Do đó, Tòa sơ thẩm xác định đây là sự kiện bảo hiểm thuộc trách nhiệm bồi thường của ABIC là có căn cứ, đúng quy định pháp luật và phù hợp với thỏa thuận giữa các bên trong Hợp đồng bảo hiểm.
5.2. Về trách nhiệm bồi thường:
Công ty N3 yêu cầu P bồi thường tổng số tiền 5.986.545.244 đồng, trong đó:
(1) Chi phí tư vấn khảo sát với Công ty T8: 1.658.755.000 đồng;
(2) Chi phí phát hành bảo lãnh Ngân hàng: 69.386.302 đồng;
(3) Chi phí thuê nhà tạm cho bà Huỳnh Thị N2: 45.000.000 đồng;
(4) Tiền bồi thường thiệt hại cho các hộ dân lân cận: 4.723.403.942 đồng;
(5) Khấu trừ khoản tạm ứng bồi thường đã nhận của ABIC: 500.000.000 đồng;
(6) Khấu trừ bảo hiểm theo khoản 8.2 Hợp đồng bảo hiểm: 10.000.000 đồng.
Xét thấy việc xác định trách nhiệm bảo hiểm của ABIC phải căn cứ vào Hợp đồng bảo hiểm, Quy tắc bảo hiểm và mức độ thiệt hại thực tế phát sinh từ sự kiện bảo hiểm. Theo Điều 46 Luật Kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường theo mức độ thiệt hại thực tế và thanh toán các chi phí cần thiết, hợp lý để đề phòng, hạn chế tổn thất và những chi phí phát sinh mà người được bảo hiểm phải chịu để thực hiện chỉ dẫn của doanh nghiệp B1.
Đối với các khoản chi phí tư vấn khảo sát của Công ty T8 1.658.755.000 đồng (1); chi phí thuê nhà của bà Huỳnh Thị N2 45.000.000 đồng (3); và tiền bồi thường cho 08 hộ dân 4.723.403.942 đồng (4), Hội đồng xét xử nhận thấy đây đều là các khoản thiệt hại thực tế và chi phí cần thiết, hợp lý phát sinh trực tiếp từ sự kiện bảo hiểm nhằm xác định nguyên nhân sự cố, hạn chế tổn thất, khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm. Các khoản chi phí này đều có tài liệu, chứng cứ chứng minh và đã được Công ty N3 thực tế chi trả. Căn cứ Điều 46 Luật Kinh doanh bảo hiểm, ABIC có trách nhiệm hoàn trả các khoản tiền nêu trên trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm theo Hợp đồng bảo hiểm.
Đối với chi phí phát hành bảo lãnh Ngân hàng 69.386.302 đồng (2): Hội đồng xét xử nhận thấy đây là chi phí phát sinh từ việc Công ty N3 thực hiện biện pháp tài chính để bảo đảm nghĩa vụ bồi thường với các hộ dân bị ảnh hưởng, không phải là thiệt hại trực tiếp phát sinh từ sự kiện bảo hiểm đối với bên thứ ba, cũng không phải là chi phí cần thiết, hợp lý để xác định nguyên nhân sự cố, đề phòng, hạn chế tổn thất. Vì vậy, xác định đây không phải là khoản thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của ABIC. Do đó, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của ABIC về nội dung này và sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu bồi thường đối với khoản chi phí nêu trên.
Ngày 01/11/2021, Công ty N3 đã nhận tạm ứng bồi thường từ ABIC số tiền 500.000.000 đồng (5). Ngoài ra, theo khoản 8.2 Hợp đồng bảo hiểm, mức khấu trừ bảo hiểm là: 10.000.000 đồng/vụ (6). Do đó, cần thiết phải khấu trừ những khoản này vào giá trị ABIC phải bồi thường cho Công ty N3.
Như vậy, có căn cứ chấp nhận các khoản chi phí tại mục (1), (3) và (4); không chấp nhận khoản chi phí tại mục (2); đồng thời khấu trừ khoản tiền tạm ứng bồi thường 500.000.000 đồng và mức khấu trừ bảo hiểm 10.000.000 đồng theo Hợp đồng bảo hiểm. Do đó, số tiền ABIC có trách nhiệm thanh toán cho Công ty N3 được xác định là: (1) + (3) + (4) - (5) - (6) = 1.658.755.000 đồng + 45.000.000 đồng + 4.723.403.942 đồng - 500.000.000 đồng - 10.000.000 đồng = 5.917.158.942 đồng (Năm tỷ chín trăm mười bảy triệu một trăm năm mươi tám nghìn chín trăm bốn mươi hai đồng).
5.3. Về yêu cầu đòi chi phí giám định:
Đối với yêu cầu của Công ty N3 về việc buộc ABIC thanh toán chi phí giám định liên quan đến Báo cáo giám định tư pháp của Trung tâm T8, Hội đồng xét xử nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu này vì cho rằng Trung tâm T8 chưa thực hiện đầy đủ nội dung theo quyết định trưng cầu giám định do những nguyên nhân khách quan. Công ty N3 không kháng cáo đối với phần quyết định này và tại phiên tòa phúc thẩm cũng xác định tự nguyện chịu khoản chi phí nêu trên. Mặt khác, cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất với phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm về nội dung này, nên cần giữ nguyên phần quyết định này trong bản án sơ thẩm.
6. Về cách tuyên của bản án sơ thẩm:
Tại cấp sơ thẩm, Công ty N3 đã có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản bồi thường cho 11 hộ gia đình với số tiền 2.974.550.227 đồng. Việc rút một phần yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật và được cấp sơ thẩm chấp nhận. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm chưa tuyên đình chỉ giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự là còn thiếu. Do đó, cần thiết sửa bản án sơ thẩm theo đó bổ sung việc đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút nêu trên.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn chưa tuyên về phần nghĩa vụ chịu lãi và lãi suất thi hành án. Trong vụ án này, số tiền Công ty N3 yêu cầu ABIC thanh toán là khoản tiền Công ty N3 đã chi trả, khắc phục, bồi thường cho bên thứ ba nên thuộc trách nhiệm bồi thường của ABIC theo Hợp đồng bảo hiểm. Vì vậy, nghĩa vụ chịu lãi và lãi suất thi hành án được xác định theo điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTM ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Do đó, cần sửa bản án sơ thẩm theo đó bổ sung nội dung này vào phần quyết định.
7. Về án phí kinh doanh thương mại:
Về án phí sơ thẩm: Sửa về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm, theo đó nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm tính trên phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận và bị đơn phải chịu án phí tính trên phần nghĩa vụ phải thực hiện đối với nguyên đơn.
Về án phí phúc thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm bị kháng cáo, nên người kháng cáo không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 5 Điều 94, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 13, 117, 351, 358, 362, 385, 398, 401 và 585 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 9, 46, 119 Luật Xây dựng năm 2014;
Căn cứ các Điều 12, 13, 14, 15, 17, 18, 46, 48, 52, 57 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010;
Căn cứ các Điều 26, 27, 32 Luật giám định tư pháp 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020;
Căn cứ các Điều 2, 45, 46, 47, 48, 49 Nghị định số ngày 26/01/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng;
Nghị định số 119/2015/NĐ-CP ngày 13/11/2015 quy định bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng; Nghị định số 20/2022/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/3/2022 sửa đổi bổ sung Nghị định số 119/2015/NĐ-CP;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTM ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty Cổ phần B và Công ty Cổ phần G1. Sửa Bản án kinh doanh thương mại số 51/2024/KDTM-ST ngày 19, 23/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội nay là Toà án nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội và xử như sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần N3 về việc đòi Công ty Cổ phần B thanh toán số tiền bảo hiểm theo Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng số 00729/19AD/KT/002/KD2 ngày 16/07/2019 giữa hai bên.
Buộc Công ty Cổ phần B phải thanh toán cho Công ty Cổ phần N3 số tiền bảo hiểm là: 5.917.158.942 đồng (Năm tỷ chín trăm mười bảy triệu một trăm năm mươi tám nghìn chín trăm bốn mươi hai đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần N3 về việc đòi Công ty Cổ phần B thanh toán số tiền chi phí bảo lãnh Ngân hàng là: 69.386.302 đồng (Sáu mươi chín triệu ba trăm tám mươi sáu nghìn ba trăm linh hai đồng).
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần N3 về việc đòi Công ty Cổ phần B thanh toán số tiền chi phí giám định của Giám định kết quả báo cáo kiểm định, giám định công trình xây dựng ngày 01/02/2024 do Trung tâm kiểm định và tư vấn xây dựng T8 thực hiện.
4. Không chấp nhận yêu cầu hủy kết quả Báo cáo giám định cuối cùng tổn thất tài sản bên thứ ba Dự án khách sạn G2 ngày 23/12/2021 cùng các phụ lục đính kèm Báo cáo cuối cùng Dự toán khắc phục (đợt 1-4) của Công ty Cổ phần G1.
5. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện đã rút của Công ty Cổ phần N3 về việc đòi Công ty Cổ phần B thanh toán số tiền Công ty Cổ phần N3 đã bồi thường cho 11 hộ gia đình là: 2.974.550.227 đồng (Hai tỷ chín trăm bảy mươi tư triệu năm trăm năm mươi nghìn hai trăm hai mươi bảy đồng).
6. Về án phí kinh doanh thương mại:
6.1. Án phí sơ thẩm:
- Công ty Cổ phần B phải chịu 113.917.158 đồng (Một trăm mười ba triệu chín trăm mười bảy nghìn một trăm năm mươi tám đồng) án phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0046470 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, nay là Đội thi hành án dân sự Khu vực 4 - Hà Nội; Còn phải nộp tiếp 111.917.158 đồng (Một trăm mười một triệu chín trăm mười bảy nghìn một trăm năm mươi tám đồng).
- Công ty Cổ phần N3 phải chịu 3.469.315 đồng (Ba triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn ba trăm mười lăm đồng) án phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền 58.000.000 đồng (Năm mươi tám triệu đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 0019292 ngày 20/3/2023 tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, nay là Đội thi hành án dân sự Khu vực 4 - Hà Nội; được trả lại 54.530.685 đồng (Năm mươi tư triệu năm trăm ba mươi nghìn sáu trăm tám mươi lăm đồng).
6.2. Án phí phúc thẩm:
- Công ty Cổ phần B không phải chịu án phí phúc thẩm.
- Công ty Cổ phần G1 không phải chịu án phí phúc thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0046716 ngày 21/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, nay là Đội thi hành án dân sự Khu vực 4 - Hà Nội.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| * Nơi nhận: - VKSND TP Hà Nội; - TAND Khu vực 4, TP Hà Nội; - Đội THADS Khu vực 4, TP Hà Nội; - Các đương sự; - Lưu TKT,VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký |