- Tranh chấp gì? án hình sự — "lê phước t - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Phước T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình s…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG THÁP ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2026/HS-ST Ngày 15-6-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Xuân Lam
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Nhu
Ông Trần Trung Nhân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường An - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2026/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Lê Phước T, sinh ngày 13/3/1989, tại tỉnh Đồng Tháp. CCCD số 087. HKTT: tổ 06, khóm 10, phường M, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở hiện tại: ấp 0, xã A, tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha là Lê Phước N (1965), mẹ là Lê Thị Ph (1967); Vợ là Phạm Thị Trúc L (1987), có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2019); Tiền án: Không, Tiền sự: Không; Về nhân thân: Từ nhỏ sống chung gia đình tại khóm 10, phường M, tỉnh Đồng Tháp, học hết lớp 06 thì nghỉ học. Sau đó, lập gia đình cùng vợ sinh sống tại địa chỉ ấp 3, xã An Hữu, tỉnh Đồng Tháp cho đến nay. Ngày 12/5/2026, bị Toà án nhân dân (TAND) Khu vực 7 - Tây Ninh xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây Ninh bắt tạm giam từ ngày 09/02/2026 tại Phân trại tạm giam Tân Lân thuộc Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Tây Ninh cho đến nay. (Có đơn xin vắng mặt)
Bị hại:
Đỗ Văn Thanh L, sinh năm 2006 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp 0, xã A, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 06/11/2025, anh Đỗ Văn Thanh L, sinh năm 2006, nơi cư trú: Ấp 1, xã A, tỉnh Đồng Tháp điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 63D1-247.33 đến đậu trước tiệm “Hải Yến Nail” thuộc ấp 1, xã A để vào làm việc tại quán chay “An Lạc” bên cạnh tiệm nail; trong cốp xe anh L có để 01 cái bóp, bên trong có số tiền 4.510.000 đồng (gồm 09 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng).
Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Lê Phước T mặc áo mưa màu xanh dạng cánh dơi, trên áo có chữ “CB Ngân hàng Xây Dựng”, bên trong mặc áo màu đen, quần jean ngắn màu xanh, đội nón bảo hiểm màu xám, mang dép màu xanh, đeo khẩu trang màu trắng, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius Fi, biển số 66P1-761.52 đi ngang khu vực trên thì phát hiện xe của anh L không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.
Lúc này, T điều khiển xe đến đậu cặp bên trái xe của anh L, dùng tà áo mưa phía trước phủ lên yên xe anh L để che chắn; dùng tay trái mở cốp xe tạo khoảng trống, rồi đưa tay phải vào cốp xe anh L lấy 01 cái bóp ra; sau đó T mở bóp lấy số tiền 4.510.000 đồng, bỏ lại bóp vào cốp xe và điều khiển xe về hướng cầu A để tẩu thoát. Đến khoảng 08 giờ 10 phút cùng ngày, anh L phát hiện mất tài sản nên trình báo Công an xã A tiếp nhận, giải quyết.
Đến khoảng 09 giờ ngày 10/11/2025, khi bị Công an xã A mời làm việc, Lê Phước T đã thừa nhận hành vi trộm cắp số tiền 4.510.000 đồng của anh Đỗ Văn Thanh L sử dụng tiền tiêu xài cá nhân hết.
Lê Phước T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện khắc phục hậu quả, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius Fi, màu đen, xám, biển số 66P1 – 761.52.
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 66P1 – 761.52 mang tên Lê Phước Tuấn.
- 01 áo mưa, dạng áo cánh dơi, màu xanh, trên áo có chữ CB Ngân hàng Xây Dựng.
- 01 nón bảo hiểm màu xám, lưỡi trai phía trước màu đen.
- 01 đôi dép màu xanh.
- 01 quần jean ngắn, màu xanh.
- 01 áo thun màu đen ngắn tay.
Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Lê Phước T đã tự nguyện bồi thường số tiền 4.510.000 đồng cho anh Đỗ Văn Thanh L. Anh L không yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSKV5 ngày 28/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) khu vực 5 - Đồng Tháp truy tố bị cáo Lê Phước T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Trên cơ sở đánh giá toàn bộ chứng cứ của vụ án, có thể khẳng định nội dung truy tố của Cáo trạng số 15/CT-VKSKV5 ngày 28/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đồng Tháp là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về phần hình sự: Bị cáo Lê Phước T về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng:
+ 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius Fi, màu đen, xám, biển số 66P1 – 761.52; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 66P1 – 761.52 mang tên Lê Phước T: Đây là tài sản của bị cáo, không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo.
+ 01 áo mưa, dạng áo cánh dơi, màu xanh, trên áo có chữ CB Ngân hàng Xây Dựng; 01 nón bảo hiểm màu xám, lưỡi trai phía trước màu đen; 01 đôi dép màu xanh; 01 quần jean ngắn, màu xanh; 01 áo thun màu đen ngắn tay: đây là công cụ, đồ vật dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
- Về phần dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét
a) Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Phước T tù có thời hạn từ 6 tháng đến 9 tháng về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt chung là từ 6 tháng đến 9 tháng tù.
b) Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- Trả lại cho bị cáo: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius Fi, màu đen, xám, biển số 66P1 – 761.52; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 66P1 – 761.52 mang tên Lê Phước T.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo mưa, dạng áo cánh dơi, màu xanh, trên áo có chữ CB Ngân hàng Xây Dựng; 01 nón bảo hiểm màu xám, lưỡi trai phía trước màu đen; 01 đôi dép màu xanh; 01 quần jean ngắn, màu xanh; 01 áo thun màu đen ngắn tay.
c) Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Tại phiên toà, anh Đỗ Văn Thanh L không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Xét trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự và thủ tục theo quy định pháp luật.
Bị cáo có đơn xin vắng mặt tại phiên toà. Xét, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại gì cho việc xét xử vụ án và phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng Hình sự nên được chấp nhận.
Về nội dung:
Căn cứ vào tất cả tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng mà VKND Khu vực 5 - Đồng Tháp đã truy tố.
Xuất phát từ việc lười lao động muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại lấy trộm tài sản của bị hại như đã trình bày trên tại phần nội dung vụ án với số tiền 4.510.000 đồng.
Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Xét về nhân thân:
Mặc dù, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Nhưng bị cáo có nhân thân xấu là ngày 12/5/2026, bị TAND Khu vực 7 - Tây Ninh xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội mà vẫn cố ý thực hiện hành trộm cắp tài sản của người khác giữa ban ngày. Điều này thể hiện bị cáo liều lĩnh, xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người dân được pháp luật bảo vệ. Nên, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian với mức hình phạt thích đáng để nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không có tiền án, ngày 12/5/2026 bị cáo bị TAND Khu vực 7 - Đồng Tháp xử phạt 02 năm tù đối với hành vi trộm cắp tài sản thực hiện ngày 30/01/2026 nên trong vụ án này, bị cáo vẫn được hưởng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét lượng hình phù hợp đối với bị cáo đúng luật định.
Về xử lý vật chứng:
Xét, 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius Fi, màu đen, xám, biển số 66P1 – 761.52 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 66P1 – 761.52 mang tên Lê Phước Tuấn, không là phương tiện trực tiếp để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo là phù hợp.
Xét, 01 áo mưa, dạng áo cánh dơi, màu xanh, trên áo có chữ CB Ngân hàng Xây Dựng, là công cụ, đồ vật dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
Xét, 01 nón bảo hiểm màu xám, lưỡi trai phía trước màu đen, 01 đôi dép màu xanh, 01 quần jean ngắn, màu xanh, 01 áo thun màu đen ngắn tay. Là đồ trên người của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 4.510.000 đồng cho anh Lợi. Anh L không yêu cầu gì thêm. Nên không đặt ra xem xét.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Xét, lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; 38, 56, 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 290, 292, 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự; Luật số 99/2025/QH15, ngày 27/6/2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Phước T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Phước T 09 (chín) tháng tù.
Bị cáo Lê Phước T phải chấp hành hình phạt 02 (hai) năm tù của bản án số 38/2026/HSST ngày 12/5/2026 của TAND Khu vực 7 - Tây Ninh về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo Lê Phước T là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/02/2026.
2. Xử lý vật chứng:
- Trả lại bị cáo:
+ 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius Fi, màu đen, xám, biển số 66P1 – 761.52.
+ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 66P1 – 761.52 mang tên Lê Phước Tuấn.
- Tịch thu tiêu huỷ:
+ 01 áo mưa, dạng áo cánh dơi, màu xanh, trên áo có chữ CB Ngân hàng Xây Dựng.
+ 01 nón bảo hiểm màu xám, lưỡi trai phía trước màu đen.
+ 01 đôi dép màu xanh.
+ 01 quần jean ngắn, màu xanh.
+ 01 áo thun màu đen ngắn tay.
Vật chứng nêu trên được lưu giữ tại kho của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Đồng Tháp theo Quyết định chuyển vật chứng số 12/QĐ-VKSDTP-KV, ngày 28/4/2026 của VKSND khu vực 5 - Đồng Tháp.
3. Án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật, đối với bị hại thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - CAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND khu vực 5; - Phòng THADS khu vực 5; - Cơ quan THAHS; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoàng Xuân Lam |