- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hà Lê Thanh T - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nh n một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hà Lê Thanh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2026/HS-PT Ngày: 02/4/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Bà Kiều Kim Xuân.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thành – Thư ký;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2026/TLPT-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo Hà Lê Thanh T do có kháng cáo của bị cáo Hà Lê Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp.
- Bị cáo có kháng cáo: Bị cáo Hà Lê Thanh T, sinh ngày 28 tháng 5 năm 2005; Nơi sinh: Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp);
Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã V, tỉnh Đồng Tháp;
Số căn cước công dân: 082205001070;
Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12;
Con ông Hà Thanh T1 và bà Lê Thị Thanh T2;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Ngư i b h a h bị
Hà Lê Thanh T: Lu t sư Trần Thị Kim P - Văn phòng lu t sư Trần Thị Kim P thuộc Đoàn Lu t sư tỉnh Đ.
- Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại không có kháng cáo; Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 23/5/2025, Hà Lê Thanh T phát hiện nhà của ông Nguyễn Hữu H khóa cửa không người trông coi thì T nảy sinh ý định lấy trộm tài sản trong nhà ông H. T rủ thêm Nguyễn Đăng K (sinh ngày 25/7/2009, nơi cư trú: Ấp B, xã V, tỉnh Đồng Tháp), Đinh Anh K1 (sinh ngày 11/9/2009, nơi cư trú: Ấp B, xã V, tỉnh Đồng Tháp), Kim Minh T3 (sinh ngày 20/10/2009, nơi cư trú: Ấp C, xã V, tỉnh Đồng Tháp) cùng đến nhà ông H để trộm cắp tài sản, thì Đăng K, Anh K1 và T3 đồng ý. Khi đi, T mang theo 01 cái kềm, 01 cây tua vít và 01 đèn pin đội đầu để chuẩn bị cho việc trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 00 giờ ngày 24/5/2025, T3 chở Anh K1 bằng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu xanh biển số 63B6-256.56; Đăng K chở T bằng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đen - bạc, biển số 72T2-6704 cùng di chuyển đến nhà ông H. Khi đến trước nhà ông H, Đăng K và T3 ngồi trên xe cảnh giới, T và Anh K lén lút đột nh p vào từ phía sau nhà. T dùng kềm mang theo bẻ móc khóa cửa sau nhà ông H rồi cùng Anh K vào bên trong nhà. Do trong nhà ông H có nhiều loại tài sản, nên T và Anh K1 đã 03 lần đột nh p vào để lấy trộm tài sản, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất, T, Anh K1 lấy trộm: 25 chai rượu ngoại các loại, 01 vali bằng nhựa màu đen, 04 túi vải.
Lần thứ hai, sau khi mang các tài sản trộm được lần thứ nhất ra đến hàng rào cửa chính, T và Anh K1 trở lại bên trong nhà để tiếp tục lấy trộm: 02 bộ lư đồng (tam sự), 02 cái ô trầu bằng đồng (01 cái có nắp, 01 cái không có nắp), 03 ô tô loại mô hình điều khiển từ xa, 01 ca nô loại mô hình điều khiển từ xa, 01 bộ điều khiển cầm tay.
Do các chai rượu có trọng lượng nặng nên T dùng kềm cắt dây kẽm hàng rào cổng trước, kéo rào sang một bên rồi mang tất cả tài sản trộm được ở trên đến nơi Đăng Khoa và T3 chờ sẵn, đem về nhà của Đăng K cất giấu.
Lần thứ ba, đến khoảng 02 giờ cùng ngày, Anh K1 nói trong nhà của ông H vẫn còn bánh nên cả nhóm thống nhất cùng quay trở lại để tiếp tục lấy trộm. T và Anh K1 tiếp tục đột nh p vào nhà ông H lấy trộm 01 giỏ quà bên trong có bánh kẹo, nước ngọt rồi cùng Đăng K, T3 mang về nhà của Đăng K. Tại đây, cả nhóm của T đã sử dụng hết tài sản trộm được bên trong giỏ quà.
T mang về nhà của T cất giấu 01 chai rượu, 03 xe ô tô loại mô hình điều khiển từ xa; 01 ca nô loại mô hình điều khiển từ xa; 01 bộ điều khiển cầm tay, ngoài ra T chụp hình 02 bộ lư đồng rồi đăng bán trên mạng xã hội "Facebook".
Đến sáng ngày 25/5/2025, ông Nguyễn Hữu T4 (sinh năm 1973, là cháu ruột của ông Nguyễn Hữu H) đến nhà ông H thì phát hiện tài sản trong nhà bị mất trộm, nên ông T4 trình báo sự việc đến Công an xã B.
Trong cùng ngày, ông Nguyễn Văn Q đã liên hệ với T để mua 02 bộ lư đồng với giá 5.000.000 đồng; T, Anh K1, Đăng K và T3 đóng gói 02 (hai) bộ lư đồng rồi gửi cho doanh nghiệp v n chuyển hàng hóa “J&T Express" tại xã V, tỉnh Đồng Tháp để giao cho ông Q. Khi đơn hàng này chưa được chuyển đi thì vụ án đã được Cơ quan điều tra phát hiện, nên Cơ quan điều tra tiến hành tạm giữ tài sản cùng các v t chứng, đồ v t liên quan khác.
Theo Kết lu n định giá tài sản số 39/KL-ĐGTS ngày 11/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, những tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án có giá trị như sau:
- 01 bộ tam sự (lư đồng) gồm: 01 cái lư vuông bằng đồng, kích thước (73x23x26) cm nặng 13kg, 02 cái chân đèn mỗi cái cao 50cm, nặng 03kg, trị giá 7.360.000 đồng.
- 01 bộ T5 (lư đồng) gồm: 01 cái lư vuông bằng đồng, kích thước (50x18x20) nặng 5.5kg, 02 cái chân đèn mỗi cái cao 48cm, nặng 02kg, trị giá 4.000.000 đồng.
- 01 ô trầu bằng đồng kích thước (20x11) cm, nặng 1.5 kg, nắp ô có đường kính 20cm, trị giá 280.000 đồng.
- 01 ô trầu bằng đồng đường kính miệng 17cm, cao 9cm, nặng 01kg (không có nắp), trị giá 120.000 đồng.
- 18 chai rượu có tem kiểm định, trong đó:
+ 01 chai nhãn hiệu “Chivas Regal 18 G", loại "whisky", tem kiểm định số 111318, trị giá 1.600.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Chivas Regal 18 Gold S whisky", loại "whisky", tem kiểm định số 00601059, trị giá 1.800.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Johnnie Walker Red Label", loại "whisky" tem kiểm định số 1265424, trị giá 400.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Glen Turner Single Malt", loại "whisky", tem kiểm định số 525462, trị giá 800.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Rượu gạo Tám thơm”, tem kiểm định số 893614856189, trị giá 150.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Smirnoff blue No57", loại “vodka”, tem kiểm định số 119169, trị giá 350.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Passion”, loại vang trắng, tem kiểm định số 20090109, trị giá 200.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “The Lyrup wine company", loại "shiraz 2008", tem kiểm định số 020100, trị giá 300.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Since 1825", loại vang đỏ, trị giá 300.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Napoleon Rivalet XO", tem kiểm định số 999055, trị giá 200.000 đồng
+ 01 chai nhãn hiệu “Bordeaux AOC 1993", loại vang đỏ, trị giá 200.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Passion", loại vang đỏ, tem kiểm định số 20101007, trị giá 200.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Kpachoe Иrристое", loại sampanh đó, tem kiểm định số 259132, trị giá 100.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “BB Édes”, loại vang trắng, tem kiểm định số 097841, trị giá 200.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Cobemckoe Wamnahckoe", loại sampanh trắng, tem kiểm định số 590789, trị giá 200.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Chavron reserve", loại vang đỏ, tem kiểm định số 421280, trị giá 200.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Hardy's Cabernet Sauvignon varietal range 2007", loại vang đỏ, trị giá 200.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Belle France Bordeaux 2008", loại vang đỏ, trị giá 200.000 đồng.
- 06 chai rượu không có tem kiểm định, trong đó:
+ 01 chai nhãn hiệu “V", loại nước trái cây không cồn, trị giá 150.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “G.H.Mumm Corndon Rouge", loại sampanh, trị giá 200.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “S", loại nước trái cây không cồn, trị giá: 120.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “S", loại nước trái cây không cồn, trị giá 120.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “BB Alkoholmentes”, loại nước trái cây không cồn, trị giá 120.000 đồng.
+ 01 chai nhãn hiệu “Sokfarm”, loại m t hoa dừa lên men, trị giá 220.000 đồng.
- 01 chai rượu đã qua sử dụng loại chai thủy tinh màu đen, nhãn hiêu "S", loại nước trái cây không cồn, không xác định được giá trị.
- 01 xe ô tô mô hình điều khiển từ xa màu đỏ, trên thân có dòng chữ "Captain America”, trị giá 104.500 đồng.
- 01 xe ô tô mô hình điều khiển từ xa màu đỏ, có thể thay đổi hình dạng, trị giá 50.000 đồng.
- 01 xe ô tô mô hình điều khiển từ xa màu đỏ, loại ô tô địa hình, trị giá 109.500 đồng.
- 01 ca nô mô hình điều khiển từ xa, màu đỏ-trắng, trị giá 100.000 đồng.
- 01 tay cầm điều khiển từ xa, bên trên có chữ “SPEED" và "RADIO CONTROL", trị giá 15.000 đồng.
- Không xác định được giá trị đối với 04 cái túi bằng vải.
Theo Văn bản số 1942/STC-QLG ngày 08/9/2025 về việc phúc đáp yêu cầu định giá tài sản đối với 01 cái vali bằng nhựa màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã bị hư hỏng phần khoá, Sở Tài chính tỉnh Đ xác định: Không đủ cơ sở để tiến hành định giá.
Như v y, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án là: 20.669.500 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp đã Quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ lu t Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Hà Lê Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Hà Lê Thanh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý v t chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại.
Ngày 23/12/2025, bị cáo Hà Lê Thanh T kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hà Lê Thanh T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và bị cáo đã tuân thủ đúng quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự;
Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên nh n định: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bị cáo Hà Lê Thanh T đã bồi thường, khắc phục h u quả cho bị hại tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 khi quyết định hình phạt cho bị cáo là thiếu sót. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bổ sung tình tiết này khi xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hà Lê Thanh T từ 03 đến 06 tháng tù.
Lu t sư Trần Thị Kim P trình bày lời bào chữa cho bị cáo Hà Lê Thanh T: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 và Điều 52 Bộ lu t Hình sự năm 2015, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 khi quyết định hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo. Trường hợp bị cáo không được hưởng án treo thì đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bồi thường khắc phục h u quả và phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn theo quy định tại điểm b, điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Xét thời hạn kháng cáo của bị cáo Hà Lê Thanh T, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Căn cứ đơn kháng cáo ngày 23/12/2025, bị cáo Hà Lê Thanh T kháng cáo trong thời hạn theo quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung vụ án:
Tại quá trình điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở khẳng định:
Vào rạng sáng ngày 24/5/2025, tại nhà ông Nguyễn Hữu H tại ấp H, xã B, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Hà Lê Thanh T đã khởi xướng, rủ rê Nguyễn Đăng K, Đinh Anh K1 và Kim Minh T3 (đều là người chưa đủ 16 tuổi) để cùng lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông H gồm: 02 bộ lư đồng (tam sự), 02 ô trầu đồng, 25 chai rượu ngoại các loại, 03 xe ô tô mô hình điều khiển từ xa, 01 ca nô mô hình điều khiển từ xa, 01 bộ điều khiển từ xa, 01 giỏ quà, 01 vali và 04 túi vải; tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 20.669.500 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp lu t bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của bị cáo.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ lu t Hình sự nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với tội danh trên là có căn cứ.
Đối với nội dung kháng cáo của bị cáo Hà Lê Thanh T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp lu t bảo vệ và gây mất tr t tự an toàn xã hội tại địa phương. Cần có mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.
Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét tính chất, mức độ, h u quả hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đồng thời thừa nh n đã nh n được 2.000.000 đồng tiền bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục h u quả cho bị hại đối với tài sản của bị hại là giỏ quà bánh mà bị cáo T và các đối tượng khác đã trộm của bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục h u quả” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự nên việc Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo là thiếu sót.
Xét thấy, bị cáo Hà Lê Thanh T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục h u quả cho bị hại thể hiện bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp lu t.
Từ những nh n định trên, Hội đồng xét xử chấp nh n một phần kháng cáo của bị cáo Hà Lê Thanh T, giảm một phần mức hình phạt đối với bị cáo.
Đối với đề nghị của Lu t sư bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ lu t Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo các đối tượng khác cùng thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện tính chủ động, vai trò chính trong vụ án. Vì v y, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, đồng thời bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nh n đề nghị của lu t sư bào chữa về việc áp dụng Điều 54 và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đối với đề nghị của Lu t sư xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp với nh n định của Hội đồng xét xử nên chấp nh n.
Xét thấy, đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là phù hợp với nh n định của Hội đồng xét xử nên chấp nh n.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp lu t.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355 và Điều 357 Bộ lu t Tố tụng hình sự;
Chấp nh n một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hà Lê Thanh T.
Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp;
1. Tuyên bố bị cáo Hà Lê Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ lu t Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hà Lê Thanh T 01 (một) năm tù về tội trộm cắp tài sản. Thời hạn được tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm:
Căn cứ các điều 135, 136 Bộ lu t Tố tụng hình sự;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Hà Lê Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các Quyết định khác của Bản án hình sơ thẩm số: 92/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Tháp không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TPT TAND TC tại TP. HCM; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - TAND KV1 - Đồng Tháp; - VKSND KV1 - Đồng Tháp; - THAHS CA tỉnh Đồng Tháp; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Đồng Tháp; - Phòng THADS KV1 – Đồng Tháp; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phong |