vanban.org

Bản án 62/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Minh N.

Về hôn nhân: Bà Võ Minh N được ly hôn với ông Nguyễn Văn D. Về con chung: Bà N và ông D có hai con chung họ tên là Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2004 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2010. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Võ Minh N - Nguyễn Văn D."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Minh N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2026/HNGĐ–ST
Ngày: 25-02-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hiền

2. Bà Trần Thị Sẩm

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Sương – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9

- Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Hoàng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 511/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 29/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Minh N, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Ấp T, xã A, tỉnh Vĩnh Long. (Xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Ấp T, xã A, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nguyên đơn bà Võ Minh N trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn D kết hôn vào năm 2008, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre ngày 30 tháng 9 năm 2008 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, giữa vợ chồng không tìm được tiếng nói chung dẫn đến không tin tưởng lẫn nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với ông D được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn.

Về con chung: Bà và ông D có hai con chung họ tên là Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2004 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2010. Hiện nay con chung Nguyễn Thị Trúc L đã thành niên, đủ khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết, bà đồng ý giao con chung Nguyễn Minh N cho ông D trực tiếp nuôi, bà không cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Bà và ông D tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết chia tài sản. Về nợ chung: Bà và ông D không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nợ chung.

Bị đơn ông Nguyễn Văn D vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà nên không có lời trình bày, không gửi văn bản nêu ý kiến và tài liệu, chứng cứ cho Toà án xem xét.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long trình bày quan điểm như sau:

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các thủ tục tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 28, 147, 227, 235 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Minh N.

- Về hôn nhân: Bà Võ Minh N được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

- Về con chung: Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2004, đã thành niên, đủ khả năng lao động, bà N và ông D không yêu cầu nên không giải quyết; Nguyễn Minh N, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2010, giao cho ông D trực tiếp nuôi, ghi nhận ông D không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng bà Võ Minh N phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0010793 ngày 28 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn bà Võ Minh N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, giải quyết nuôi con chung với bị đơn ông Nguyễn Văn D. Căn cứ yêu cầu khởi kiện nêu trên của nguyên đơn xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà N cho rằng giữa bà và ông D không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân không hạnh phúc nên bà có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 68 và Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông D có nơi cư trú tại ấp T, xã A, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ vào quan hệ pháp luật tranh chấp và nơi cư trú của bị đơn xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Bà N có yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N. Ông D đã được Toà án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D.

Xét yêu cầu ly hôn của bà N, Hội đồng xét xử nhận định: Bà N và ông D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 30 tháng 9 năm 2008 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Do đó, hôn nhân của bà N và ông D là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Bà N cho rằng sau kết hôn vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc, không tin tưởng lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và mời ông D đến Toà tham gia hoà giải với bà N nhưng ông D không đến và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến hay phản đối yêu cầu ly hôn của bà N. Từ các cơ sở trên cho thấy tình trạng hôn nhân của bà N và ông D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà N ly hôn với ông D là phù hợp.

Xét về con chung: Bà N và ông D có hai con chung họ tên là Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2004 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2010. Xét thấy, con chung Nguyễn Thị Trúc L đã thành niên, đủ khả năng lao động, bà N và ông D không có yêu cầu giải quyết gì nên không giải quyết, con chung Nguyễn Minh N có nguyện vọng sống với cha, bà N cũng đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho ông D trực tiếp nuôi là phù hợp. Ông D không yêu cầu cấp dưỡng nên ghi nhận.

Xét về tài sản chung: Bà N trình bày bà và ông D tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết chia tài sản, ông D không đưa ra yêu cầu chia tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét về nợ chung: Bà N trình bày không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nợ chung. Ông D không đưa ra yêu cầu giải quyết nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét về án phí: Bà N có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.

Xét quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long là phù hợp với các nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào các điều 147, 227, 228, 235, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Minh N.

Về hôn nhân: Bà Võ Minh N được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

Về con chung: Bà N và ông D có hai con chung họ tên là Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2004 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2010.

Con chung Nguyễn Thị Trúc L đã thành niên, đủ khả năng lao động, bà N và ông D không yêu cầu nên không giải quyết.

Sau khi ly hôn, con chung Nguyễn Minh N giao cho ông D trực tiếp nuôi. Ghi nhận ông D không yêu cầu bà N cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: Bà N và ông D không yêu cầu giải quyết chia tài sản nên không giải quyết.

Về nợ chung: Bà N trình bày không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nợ chung, ông D không đưa ra yêu cầu giải quyết nợ chung nên không giải quyết.

Về án phí: Bà N có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010793 ngày 28 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long, bà N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ