- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Bà V"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Bá V được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2026/HNGĐ-ST Ngày: 19-5-2026 V/v:“Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Vinh và bà Nguyễn Thị Nga
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2-Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 –Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền– Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2026/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2026 về: Ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2026/QĐXX-ST ngày 06 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số: 31/TB-TA ngày 28 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Bá V, sinh năm 1986; CCCD: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Khu dân cư S, thôn P, xã M, tỉnh Quảng Ngãi
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1981; CCCD: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, tỉnh Lào Cai
(Anh V1 đơn xin xét xử vắng mặt; chị L vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – Anh Trần Bá V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh với chị Nguyễn Thị L tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã M, tỉnh Quảng Ngãi) ngày 16-9-2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại xã M, tỉnh Quảng ngãi, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được 1 thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, cách sống và phong tục tập quán của từng vùng miền. Do vậy chỉ sống chung với nhau được một thời gian ngắn, 2 vợ chồng xác định không dung hoà được cuộc sống nên đã sống ly thân từ đầu cuối năm 2016 cho đến nay, không còn quan tâm tới nhau nữa. Đến nay, anh xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Bá T, sinh ngày 07-3-2016. Từ khi sống ly thân thì cháu T do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, hiện nay cháu T sinh sống và ăn học Trường tiểu học V2, xã B, tỉnh Lào Cai. Do vậy để ổn định cuộc sống cho cháu, anh đề nghị Toà án giao cháu T cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh không cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết.
*Ý kiến của con chung: Cháu Trần Bá T có nguyện vọng được ở với mẹ là Nguyễn Thị L.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị L nhưng chị L không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81,82,83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Bá V để xử cho anh Trần Bá V được ly hôn với chị Nguyễn Thị L; Về nuôi con chung: Giao con chung là Trần Bá T, sinh ngày 07-3-2016 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh Trần Bá V không phải cấp dưỡng nuôi con; Về án phí: Anh Trần Bá V phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã Y, tỉnh Lào Cai nên yêu cầu ly hôn của anh Trần Bá V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2- Lào Cai.
Anh Trần Bá V và chị Nguyễn Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, anh V có đơn xin xét xử vắng mặt, chị L vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Tòa án nhân dân khu vực 2- Lào Cai xét xử vắng mặt các đương sự theo điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Bá V và chị Nguyễn Thị L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã M, tỉnh Quảng Ngãi) ngày 16-9-2015, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Bá V xác định vợ chồng chung sống có mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, cách sống và phong tục tập quán của từng vùng miền. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Mặc dù, Tòa án đã triệu tập chị L đến để hòa giải nhưng chị L không đến, cho thấy chị L không có thiện chí hòa giải. Từ đó có căn cứ cho thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Trần Bá V và chị Nguyễn Thị L đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Bá V là có căn cứ. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình để xử cho anh Trần Bá V được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
Về nuôi con chung: Anh V và chị L có một con chung là Trần Bá T, sinh ngày 07-3-2016. Kể từ khi sống ly thân cháu T do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Mặc dù, chị L không có mặt, không thể hiện ý kiến về việc nuôi con chung nhưng thực tế cháu T ở cùng với mẹ và bà ngoại tại thôn Đ, xã Y, tỉnh Lào Cai (Sự việc này đã có xác nhận của đại diện thôn Đ, xã Y, tỉnh Lào Cai). Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích của con chưa thành niên cần giao con chung cho chị Nguyễn Thị L là phù hợp với thực tế, phù hợp với nguyện vọng của con chung và quy định của pháp luật. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản và nợ chung: Anh Trần Bá V không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với điều kiện, thực tế khách quan của các đương sự nên chấp nhận.
Về án phí: Anh Trần Bá V phải chịu án phí DSST.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban hường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Bá V được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Trần Bá T, sinh ngày 07-3-2016 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh Trần Bá V không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3.Về án phí: Anh Trần Bá V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai số: 0000367 ngày 29-01-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai (Anh V đã nộp đủ án phí).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 2 - Lào Cai; - THADS khu vực 2- Lào Cai; - UBND xã Mộ Đức,tỉnh Quảng Ngãi; - Các đương sự; - Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Lê Thị Thanh Nga |