- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2026/DSST Ngày: 11-5-2026 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Bảy.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Nghiệp Hồng
2. Ông Đặng Hiếu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thùy Vân - Cán bộ Tòa án nhân
dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 996/2025/TLST-DS ngày 10/10/2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2026/QĐXXST-DS ngày 24/3/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2026/QĐST-DS ngày 15/4/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
Trụ sở: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng Quân, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Lầu 13 Trung Tâm xử lý nợ số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường
Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh
(Theo Văn bản ủy quyền số 3521/2025/UQ-TT-XLN ngày 07/8/2025)
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm, sinh năm 1971.
Địa chỉ: 725 Phạm Văn Chí, Phường Bình Tiên, Thành phố Hồ Chí Minh.
(các đương sự vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 14/8/2025, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (viết tắt là Sacombank) có ông Nguyễn Hoàng Quân đại diện trình bày:
Ngày 19/04/2022, bà Nguyễn Thị Thúy Diễm có ký với Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 78.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau:
- Loại thẻ: VS payWave Cre Platinum Cashback
- Số thẻ: 436438 - 3334
- Hạn mức: 78.000.000 đồng
- Lãi suất áp dụng: 2.482%
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Diễm đã thực hiện các giao dịch với tổng số
tiền là 1.244.351.200 đồng.
Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất
Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Bà Diễm phải chịu các khoản phí theo quy định trong điều 25 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bà Diễm đã thanh
toán cho Ngân hàng tổng số tiền 1.189.617.000 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
+ Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước.
+ Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ.
+ Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Tổng số tiền bà Diễm đã thanh toán 1.189.617.000 đồng sẽ được trừ vào phần
thanh toán cho các khoản phí, lãi trước, số tiền còn lại sẽ trừ vào số tiền đã giao dịch. Cụ thể: Tổng tiền lãi trong hạn: 19.161.836 đồng; Phí trễ hạn: 1.356.810 đồng; Phí vượt hạn mức: 50.000 đồng; Phí khác (phí thường niên, phí rút tiền mặt,…): 999.000 đồng; Giao dịch: 1.244.351.200 đồng.
Sau khi trừ thì dư nợ còn thiếu khi chuyển quá hạn là 76.301.846 đồng, cụ thể:
1.189.617.000 đồng – 19.161.836 đồng – 1.356.810 đồng – 50.000 đồng – 999.000 đồng – 1.244.351.200 đồng = 76.301.846 đồng).
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Diễm vẫn không có thiện chí trả
nợ. Do bà Diễm vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/06/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 76.301.846 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện:
1/ Buộc bà Nguyễn Thị Thúy Diễm phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Sài Gòn Thương Tín tổng số tiền tạm tính đến ngày 11/5/2026 là 143.059.001 đồng, trong đó Nợ gốc: 76.301.846 đồng; Lãi quá hạn: 66.757.155 đồng.
2/ Yêu cầu bà Nguyễn Thị Thúy Diễm phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ
ngày 12/5/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Đối với bị đơn là Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm: Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ
các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đến tòa để làm Bản tự khai, Thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không lấy được lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị đơn Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm vắng mặt. Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Thương Tín có ông Nguyễn Hoàng Quân đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu như đã nêu trên.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự; Về phần nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn một lần toàn bộ số tiền nợ phát sinh từ việc giao dịch thẻ tín dụng tính đến ngày 11/5/2026 là: 143.059.001 đồng, trong đó Nợ gốc: 76.301.846 đồng; Lãi quá hạn: 66.757.155 đồng và số tiền lãi quá hạn được tính tiếp cho Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm từ ngày 12/5/2026 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn mà hai bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Về án phí: Bị đơn Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm phải chịu án phí theo quy định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín thì đây là tranh
chấp Hợp đồng tín dụng do bị đơn Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm cư trú tại Phường Bình Tiên, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo qui định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín có người đại diện theo
ủy quyền là ông Nguyễn Hoàng Quân có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
2. Về các yêu cầu của đương sự:
Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 19/4/2022 kèm theo
Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín với Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm, với các điều khoản chính sau: Ngày 06/06/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 76.301.846 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Các tình tiết trên đây đã được Tòa án thông báo đến Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm nhưng đương sự không có ý kiến phản hồi nên căn cứ Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định các tình tiết trên là sự thật.
Xét trong quá trình thực hiện Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập
ngày 19/4/2022 và theo Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng thì tính từ ngày 06/6/2024 cho đến nay Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm đã không đóng tiền lãi, phí và trả nợ gốc cho Ngân hàng Sacombank là vi phạm thỏa thuận mà hai bên đã ký kết theo Điều 463 của Bộ luật dân sự và Luật các tổ chức tín dụng. Do đó, Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc, tiền lãi và phí phát sinh tính từ ngày 06/6/2024 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, cụ thể như sau:
Nợ gốc: 76.301.846 đồng; Lãi quá hạn: 66.757.155 đồng. Tổng cộng: 143.059.001
đồng và số tiền lãi quá hạn được tính tiếp cho Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm từ ngày 12/5/2026 cho đến khi trả hết nợ cho nguyên đơn theo mức lãi suất nợ quá hạn mà hai bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng.
3. Căn cứ án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong
hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm và Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm:
Đối với các khoản tiền vay của Tổ chức ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền
nợ gốc, lãi trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán xong khoản nợ gốc này. Nên Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn trên phần nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất cho ngân hàng cho vay.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín không phải
chịu án phí; Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
Khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, điểm a
điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín
dụng; Luật phí, lệ phí; Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân Tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài
Gòn Thương Tín
Buộc bà Nguyễn Thị Thúy Diễm phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền nợ phát sinh từ việc giao dịch thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 19/4/2022 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm tính đến ngày 11/5/2026 là: 143.059.001 đồng, trong đó Nợ gốc: 76.301.846 đồng; Lãi quá hạn: 66.757.155 đồng và số tiền lãi quá hạn được tính tiếp cho Bà Nguyễn Thị Thúy Diễm từ ngày 12/5/2026 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín theo mức lãi suất nợ quá hạn mà hai bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền
2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp
tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
3. Về án phí: án phí dân sự sơ thẩm là 7.152.950 đồng, Bà Nguyễn Thị Thúy
Diễm phải chịu. Nộp tai cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín không phải chịu án phí. Hoàn trả cho
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.899.434 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/25E số 0024423 ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các hội thẩm nhân dân
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Bé Bảy |