- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thanh V (tên gọi khác B, B một mắt) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-ĐỒNG THÁP ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:62/2025/HSST Ngày:19-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Quyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Long
Ông Nguyễn Văn Trầm
- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Huệ-Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 3-Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Huy- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3-Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thanh V (Tên khác: B, B một mắt), sinh ngày 03/11/1985; tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp T, xã K, tỉnh Đồng Tháp (trước đây là ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang); Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 082085010519; Con ông Phan Văn T và bà Nguyễn Thị Á; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: 01, ngày 17/5/2021, bị Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng, về hành vi trộm cắp tài sản, theo Quyết định số 0000075/QĐ-XPHC, chưa đóng phạt. Tiền án: 01, ngày 17/12/2021, bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang (Nay là Toà án nhân dân khu vực 3-Đồng Tháp) xử phạt 01 năm 03 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, theo Bản án số 125/2021/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/5/2022, chưa được xoá án tích do chưa thi hành xong phần trách nhiệm dân sự; bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/8/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam M thuộc Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh Đ.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Lê Minh P, sinh năm 2007; (xin vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp P, xã V, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Vũ Anh Q, sinh năm 1995;
Nơi cư trú: ấp T, xã K, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 01 giờ 40 phút ngày 25/8/2025, Phan Thanh V đi bộ trên đường T hướng cầu X đến cầu K để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 03 giờ 45 phút cùng ngày, V đến sân bóng đá - coffee “Phương Huy” tại ấp T, xã K, tỉnh Đồng Tháp do anh Lê Minh P làm chủ, thấy bên trong quán cà phê tại vị trí sàn nhà khu kinh doanh nơi anh P nằm ngủ có 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng đồng gắn ốp lưng bằng nhựa đang cắm sạc nên Vũ leo hàng rào vào trong lén lút lấy trộm điện thoại. Sau khi lấy trộm, V mang điện thoại đến nhà của Trần Vũ Anh Q, tên gọi khác: Quốc G, bán cho Q được số tiền 800.000 (tám trăm nghìn) đồng, số tiền trên V tiêu xài cá nhân hết. Anh P khi phát hiện mất điện thoại đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1677/KL-HĐĐGTS ngày 27/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Đồng Tháp, kết luận:
- 01 điện thoại di động hiệu Apple, model: Iphone XS Max, dung lượng: 64GB, số máy: MT5M2LL/A, số IMEI1: 357276093578354, số IMEI2: 357276093253693 (tài sản thu hồi được), có giá trị tại thời điểm ngày 25/8/2025 là 5.500.000 (Năm triệu năm trăm nghìn) đồng.
- 01 ốp lưng bằng nhựa trong, do tài sản không thu hồi được, chưa cung cấp được đầy đủ các thông tin cần thiết nên Hội đồng định giá không đủ cơ sở để tiến hành định giá đối với tài sản nêu trên.
Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 5.500.000 (Năm triệu năm trăm nghìn) đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 đoạn camera an ninh thời gian bắt đầu từ 03:45’:31” đến 03:46’:46” ngày 25/8/2025 và 01 đoạn camera an ninh thời gian bắt đầu từ 03: 44’11” đến 03:44’:59” ngày 25/8/2025 được lưu trữ trong 01 đĩa DVD. Kèm theo hồ sơ vụ án.
- 01 điện thoại di động hiệu Apple, model: Iphone XS Max, dung lượng: 64GB, số máy: MT5M2LL/A, số IMEI1: 357276093578354, số IMEI2: 357276093253693. Đây là tài sản hợp pháp của anh Lê Minh P nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trao trả cho anh P xong.
- 01 áo khoác vải thun có mũ trùm đầu màu xanh, đen; 01 nón kết vải màu đen, có chữ Gucci màu trắng; 01 quần jean lửng màu xám, trắng; 01 khẩu trang màu đen; 01 đôi dép quai ngang màu trắng, đỏ, đen. Sau khi hoàn tất hồ sơ truy tố, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, tỉnh Đồng Tháp sẽ chuyển các vật chứng trên đến Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3, tỉnh Đồng Tháp tiếp tục tạm giữ, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 02/CT-VKSNDKV3 ngày 21 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Phan Thanh V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phan Thanh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đề nghị: Xử phạt bị cáo Phan Thanh V từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo khoác vải thun có mũ trùm đầu màu xanh, đen; 01 nón kết vải màu đen, có chữ Gucci màu trắng; 01 quần jean lửng màu xám, trắng; 01 khẩu trang màu đen; 01 đôi dép quai ngang màu trắng, đỏ, đen.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Đồng Tháp truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thể hiện.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy mình có lỗi, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo hứa sẽ không tái phạm và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử và vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
2 Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo xác định: Vào khoảng 03 giờ 45 phút ngày 25/8/2025, tại ấp T, xã K, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Phan Thanh V có hành vi lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max 64GB màu vàng đồng có gắn ốp lưng bằng nhựa trong suốt của bị hại Lê Minh P, trị giá 5.500.000 (Năm triệu năm trăm nghìn) đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng được thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3 Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi này không chỉ gây thiệt hại về mặt vật chất và tinh thần đối với người bị hại mà còn làm mất an ninh trật tự, gây hoang mang cho người dân sinh sống tại địa phương, nên cần có mức án thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: bị cáo có 01 tiền án, tiền sự: 01, Hội đồng xét xử có cân nhắc khi lượng hình.
4 Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với số tiền 800.000đồng anh Trần Vũ Anh Q đã trả cho bị cáo, anh Q không có yêu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5 Về xử lý vật chứng:
Vật chứng, đồ vật được tạm giữ, xử lý như sau:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
01 áo khoác vải thun có mũ trùm đầu màu xanh, đen; 01 nón kết vải màu đen, có chữ Gucci màu trắng; 01 quần jean lửng màu xám, trắng; 01 khẩu trang màu đen; 01 đôi dép quai ngang màu trắng, đỏ, đen là của bị cáo, bị cáo không có yêu cầu nhận lại, do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với Trần Vũ Anh Q có mua điện thoại di động do V lấy trộm nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Q là có cơ sở.
7 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phan Thanh V (tên gọi khác B, B một mắt) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 173; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Thanh V (tên gọi khác B, B một mắt) 01 (một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 29/8/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) nón kết vải màu đen, có chữ Gucci màu trắng; 01 (một) quần jean lửng màu xám, trắng; 01 (một) khẩu trang màu đen; 01 (một) đôi dép quai ngang màu trắng, đỏ, đen; 01 (một) áo khoác vải thun có mũ trùm đầu màu xanh, đen.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/11/2025 của Phòng Thi hành dân sự khu vực 3-Đồng Tháp)
3. Về án phí: Căn cứ: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phan Thanh V phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Cơ quan điều tra tỉnh Đồng Tháp; - Trại tạm giam công an tỉnh Đồng Tháp; - Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3-ĐT; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Sở tư pháp tỉnh ĐT, UBND xã (khi án có HLPL); - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Hồng Quyên |