vanban.org

Bản án 62/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Trương Công Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Trương Công Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Công Đ trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HS-ST
Ngày: 17 - 4 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Chúc Ngân

Ông Nguyễn Trọng Hiểu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường A, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 63/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 67/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và Tên: Trương Công Đ, sinh năm 1973, tại Thừa Thiên Huế.

HKTT: xã Xuân Quế, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: khu phố H, thị trấn P, Đất Đỏ, Bà Rịa – Vũng Tàu. Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương C, sinh năm 1946 và bà Trương Thị G, sinh năm 1948; Bị cáo có vợ Nguyễn Thị K, sinh năm 1977 (đã chết) và có 02 con (sinh năm 1995, 2011).

Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 49/HSST ngày 15/3/1997, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên Trương Công Đ phạm tội “Hiếp dâm”, phạt 10 năm tù và 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, Đ đã chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thống Nhất (nay là Phân trại tạm giam khu vực Thống Nhất) cho đến nay. (Có mặt).

- Bị hại: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Đông Đồng Nai.

Trụ sở: 163 Quốc lộ 1A, xã, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thành N – chức vụ: Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Hạnh T – chức vụ: Trưởng phòng giao dịch Thống Nhất.

* Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1980

Địa chỉ: khu phố 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 07/12/2021, Anh Nguyễn Ngọc V điều khiển xe ô tô biển số 60A – 860.46 của ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Đông Đồng Nai lưu thông trên đường tỉnh lộ ĐT 769 theo hướng Khu công nghiệp Dầu Giây về Ngã tư Dầu Giây. Cùng lưu thông trên đường có Trương Công Đ điều khiển mô tô hiệu HONDA VARIO biển số 60B6 - 781.52 đi phía sau, lúc này mật độ phương tiện tham gia lưu thông lớn, Đạt nhiều lần điều khiển xe mô tô 60B6 - 781.52 muốn vượt xe ô tô biển số 60A – 860.46 do anh Vũ điều khiển nhưng không được. Cho rằng anh Nguyễn Ngọc V điều khiển ô tô 60A – 860.46 cố tình cản đường mình, Trương Công Đ đã vượt lên trước, chặn xe ô tô do anh Vũ điều khiển lại và cãi nhau với anh V. Sau đó anh Vũ điều khiển xe ô tô đi tiếp, Đạt tiếp tục điều khiển mô tô đuổi vượt lên trước, tay cầm mũ bảo hiểm nhảy ra chặn đầu xe thì bị ô tô 60A – 860.46 va đụng nhẹ vào người Trương Công Đ. Thấy Đ không bị thương tích, anh Vũ điều khiển xe tiếp tục rời đi. Trương Công Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô đuổi theo vượt lên trước xe ô tô 60A – 860.46 và nhặt lấy 01 cục gạch ở ven đường có kích thước 18 x 10 cm cầm trên tay đứng chờ. Thấy xe ô tô 60A – 860.46 đi tới, Trương Công Đ cầm viên gạch ném vào phía trước xe 60A – 860.46 làm kính chắn gió bể vỡ, capo xe bị móp.

Sau đó anh Nguyễn Ngọc V đã đến Công an thị trấn Dầu Giây trình báo sự việc.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 1122/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thống Nhất xác định tại thời điểm định giá ngày 07/12/2021 giá trị thiệt hại của xe ô tô 60A – 860.46: bể kính chắn gió trước 9.200.000 đồng; nắp capo xe bị móp, trầy xước 3.500.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 12.700.000 đồng.

Về vật chứng vụ án:

- 01 số mảnh vỡ gạch màu nâu đất tại hiện trường là phần còn sót lại của viên gạch có kích thước 18 x 10cm do Trương Công Đ sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 USB màu vàng chứa video nội dung diễn biến vụ việc, cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

- 01 xe mô tô biển số 60B6-781.52 và 01 nón bảo hiểm hiệu ASIA màu xanh của Trương Công Đ không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã trả cho Trương Công Đ.

- 01 xe ô tô biển số 60A-860.46 của ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Đông Đồng Nai. Cơ quan điều tra Công an huyện Thống Nhất đã trả lại cho chủ sở hữu.

Về dân sự: Trương Công Đ đã bồi thường chi phí sửa chữa xe ô tô 60A-860.46 số tiền 16.500.000 đồng. Đại diện ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Đông Đồng Nai đã nhận, làm đơn bãi nại về dân sự, cam kết không thắc mắc khiếu nại về sau nên không xem xét giải quyết.

Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS-TN ngày 19/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo Trương Công Đ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm Khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đ từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Đ trình bày đã nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tội danh và khung hình phạt:

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Công Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 17 giờ chiều ngày 07/12/2021, do mâu thuẫn trong tham gia giao thông trên đường ĐT 769 đoạn đi qua tổ 10, khu phố Phan Bội Châu, thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Trương Công Đ đã có hành vi sử dụng 01 viên gạch có kích thước 18 x 10cm để đập phá xe ô tô biển số 60A – 860.46 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Đông Đồng Nai do anh Nguyễn Ngọc Vũ điều khiển, gây thiệt hại 12.700.000 đồng.

Hành vi trên của bị cáo Trương Công Đ đã cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Do vậy, Cáo trạng số 24/CT-VKS-TN ngày 19/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo Trương Công Đ về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng quy định của pháp luật.

3 Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo là người trưởng thành, đủ nhận thức để biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mâu thuẫn nhỏ trong việc tham gia giao thông đường bộ bị cáo đã dùng gạch đập phá tài sản của bị hại thể hiện bị cáo coi thường pháp luật. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung.

4 Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo đã bị kết án về tội Hiếp dâm, mặc dù đã được xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội, thể hiện bị cáo thiếu ý thức tu dưỡng, chấp hành pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về vật chứng vụ án, trách nhiệm bồi thường dân sự

- Về vật chứng: Đối với 01 số mảnh vỡ gạch màu nâu đất tại hiện trường là phần còn sót lại của viên gạch có kích thước 18 x 10cm do Trương Công Đ sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

- Về bồi thường dân sự: Trương Công Đ đã bồi thường chi phí sửa chữa xe ô tô 60A-860.46 số tiền 16.500.000 đồng. Đại diện ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Đông Đồng Nai đã nhận, làm đơn bãi nại về dân sự, cam kết không thắc mắc khiếu nại về sau nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

6 Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên toà có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

7 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Trương Công Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Công Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2024.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 số mảnh vỡ gạch màu nâu đất tại hiện trường là phần còn sót lại của viên gạch có kích thước 18 x 10cm (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Trương Công Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ