- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn L phạm tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài…"
- Căn cứ chính? Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ C TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2024/HS-ST Ngày: 15-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ C, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thắm.
Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn L, sinh năm: 1992 tại tỉnh An Giang; hộ khẩu thƣờng trú: Khóm T, thị trấn M, huyện T, tỉnh An Giang; chỗ ở: Đƣờng DK8A, khu phố 3A, phƣờng H, thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn M, sinh năm: 1967 và bà Trần Thị Mãi, sinh năm: 1968; bị cáo có chồng tên Nguyễn T, sinh năm: 1988 và 01 con, sinh năm: 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú - có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng tháng 4/2023, Nguyễn L vào mạng xã hội Facebook thấy có ngƣời đăng quảng cáo làm các loại giấy tờ giả. Do không có tiền tiêu xài, L nảy sinh ý định đặt làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) để đem đi cầm cố lấy tiền. Sau đó, L lấy thông tin và liên hệ với ngƣời nhận làm giấy tờ giả (không rõ lai lịch) thông qua tài khoản zalo “Thời Trang” thì đƣợc ngƣời này báo giá làm giả GCNQSDĐ không công chứng đƣợc là 6.000.000 đồng, nếu công chứng đƣợc là 50.000.000 đồng. L đồng ý đặt làm GCNQSDĐ công chứng đƣợc nên ngƣời làm giả yêu cầu L cung cấp ảnh chụp căn cƣớc công dân của L và chuyển trả trƣớc số tiền 9.000.000 đồng qua tài khoản số 6063636360 mở tại Ngân hàng Đ, số tiền 41.000.000 đồng còn lại khi nào L cầm cố GCNQSDĐ đƣợc thì trả sau.
Ngƣời làm giấy tờ giả còn cung cấp cho L số điện thoại của một ngƣời môi giới bất động sản (không rõ lai lịch) và nói L giả làm ngƣời mua đất liên hệ với ngƣời môi giới này để đƣợc cung cấp hình ảnh GCNQSDĐ thật và dẫn đi xem vị trí đất. L làm theo yêu cầu và lấy đƣợc hình ảnh của 01 (một) GCNQSDĐ số DH195622 đối với thửa đất số 476, tờ bản đồ số 44, diện tích 103,5m2 tọa lạc tại phƣờng H, thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng do Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 07/11/2022 cho bà Vƣơng T, sinh năm: 1971, nơi thƣờng trú: Xã T, huyện S, tỉnh Hải Dƣơng rồi gửi cho ngƣời làm giấy tờ giả.
Ngày 21/5/2023, một ngƣời giao hàng (không rõ lai lịch) liên hệ giao cho L 01 (một) GCNQSDĐ số phát hành: BU220865 đối với thửa đất số 476, tờ bản đồ số 44 tọa lạc tại phƣờng H, thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng do Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 07/11/2022 cho Nguyễn L đứng tên. Sau khi nhận đƣợc GCNQSDĐ số BU220865, L cất giữ tại phòng trọ của mình tại nhà trọ C cạnh đƣờng DK8A, khu phố 3A, phƣờng H, thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng.
Ngày 22/5/2023, L đem GCNQSDĐ số BU220865 đến Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của Ủy ban nhân dân phƣờng H để xin xác nhận tình trạng bất động sản thì đƣợc cán bộ tiếp nhận là ông Cao L hẹn ngày 23/5/2023 trả kết quả cho L. Qua kiểm tra hồ sơ thông tin thửa đất số 476, tờ bản đồ số 44, ông Cao L nghi vấn GCNQSDĐ số BU220865 là giả nên trình báo Công an phƣờng H. Khoảng 14 giờ ngày 23/5/2023, L thuê xe mô tô chở đến Ủy ban nhân dân phƣờng H lấy kết quả xác nhận tình trạng bất động sản thì lực lƣợng Công an phƣờng H mời L về trụ sở làm việc. Sau đó, vụ việc đƣợc chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) GCNQSDĐ số BU220865 đối với thửa đất số 476, tờ bản đồ số 44 tọa lạc tại phƣờng H, thị xã C, Bình Dƣơng do Sở Tài nguyên và môi trƣờng tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 07/11/2022 cho Nguyễn L;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen;
- 01 căn cƣớc công dân tên Nguyễn L.
Theo Kết luận giám định số 245/KL-KTHS(TL) ngày 09/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU220865, mang tên “Nguyễn L”, sinh năm: 1992, CCCD số 089192008358, địa chỉ thƣờng trú: Khóm T, thị trấn M, huyện T, tỉnh An Giang, đề ngày 07/11/2022 (ký hiệu A) là giấy giả.
- Phôi và hình dấu tròn có nội dung “* CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM * TỈNH BÌNH DƢƠNG SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) là giả bằng phƣơng pháp in phun màu điện tử.
- Chữ ký mang tên “Bạch T” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký của Bạch T trên “Biên bản làm việc về việc: Thu thập mẫu chữ ký”, đề ngày 31/5/2023 (ký hiệu M1) không phải do cùng một ngƣời ký ra.
Qua làm việc với bà Vƣơng T và xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã C, xác nhận: Đối với thửa đất số 476, tờ bản đồ số 44, diện tích 103,5m2 tọa lạc tại phƣờng H, thị xã C, Bình Dƣơng hiện tại vẫn do bà T là chủ sử dụng đất.
Đối với số tài khoản 6063636360 mở tại Ngân hàng TMCP Đ là do ông Nguyễn B, sinh năm: 1972, nơi thƣờng trú: 259C, khu phố 3, phƣờng 7, thành phố T, tỉnh Bến Tre) là chủ tài khoản. Tuy nhiên, xác minh tại Công an phƣờng 7, thành phố T, tỉnh Bến Tre thì ông B đã chết ngày 14/4/2020 và hiện tại gia đình ông B đã bỏ đi khỏi địa phƣơng, không rõ ở đâu, làm gì.
Ngày 25/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã trả 01 căn cƣớc công dân cho Nguyễn L.
* Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Căn cứ quy định các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân nhân dân thị xã C tuyên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nƣớc: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen;
Bản Cáo trạng số 17/CT-VKSBC ngày 26/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn L về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện nhƣ nội dung Cáo trạng nêu trên và không có ý kiến gì khác.
Tại phần tranh luận:
1. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã C trình bày luận tội:
- Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã C tại Bản Cáo trạng số 17/CT-VKSBC ngày 26/12/2023 đối với bị cáo Nguyễn L;
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn L từ 06 đến 08 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen.
2. Bị cáo không bào chữa, không phát biểu ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn L: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn L bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã C truy tố về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét thấy hành vi của bị cáo không cấu thành tội danh nhƣ Viện kiểm sát truy tố mà đủ yếu tố cấu thành tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Căn cứ vào khoản 2 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án nhân dân thị xã C đƣa bị cáo ra xét xử về tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Nguyễn L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo L có hành vi cung cấp thông tin là hình ảnh căn cƣớc công dân của bị cáo L và 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH195622 đối với thửa đất số 476, tờ bản đồ số 44 cho ngƣời ngƣời nhận làm giấy tờ giả (không rõ lai lịch) thông qua tài khoản mạng xã hội Zalo “Hạnh phúc đơn sơ” của bị cáo gửi đến tài khoản Zalo “Thời Trang” của đối tƣợng làm giả. Sau khi nhận đƣợc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giả), bị cáo mang đến UBND phƣờng H để xin xác nhận tình trạng bất động sản thì bị phát hiện.
Việc bị cáo L xin xác nhận tình trạng bất động sản nằm trong chuỗi hành vi nhằm đạt đến mục đích cuối cùng của bị cáo là đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giả) cầm cố lấy tiền tiêu xài. Do bị phát hiện nên bị cáo L chƣa thực hiện đƣợc hành vi sử dụng (cầm cố) giấy tờ, tài liệu giả để thực hiện hành vi trái pháp luật (lừa đảo chiếm đoạt tài sản). Do đó, hành vi của bị cáo L chƣa đủ yếu tố cấu thành tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”. Viện kiểm sát nhân dân thị xã C truy tố bị cáo L về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) là chƣa phù hợp với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
Việc bị cáo cung cấp thông tin về nhân thân và hình ảnh, thông tin thửa đất để đối tƣợng thực hiện hành vi làm giả một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị cáo theo các thông tin do bị cáo cung cấp là hành vi đồng phạm với đối tƣợng làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan”.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến hoạt động của cơ quan Nhà nƣớc trong lĩnh vực quản lý đất đai và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà còn ảnh hƣởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phƣơng. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, tƣơng xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo đƣợc áp dụng là điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã C về tội danh đối với bị cáo là chƣa phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện (đã đƣợc phân tích tại mục [3]) nên không có cơ sở chấp nhận.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nƣớc.
Đối với đối tƣợng nhận làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xem xét xử lý bằng vụ án khác.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 298, Điều 299, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn L phạm tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
3. Về vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nƣớc: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen (không kiểm tra đƣợc Model, số IMEI) của Nguyễn L.
(Vật chứng đã đƣợc giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2024).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. /.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã C; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THADS thị xã C; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Xuân |