- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN TẤN L - PHAN THẾ V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên b : Bị cáo Nguyễn Tấn L và bị cáo Phan Thế V phạm tội “Trộm cắp tài s n”.
- Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật t tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN N NINH IỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án s : HS-ST Ngày: 13/5/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
N NINH IỀ , THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Văng Thị Ngọc Yến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị im Luyến
Bà Nguyễn Minh Phƣơng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần uang Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành ph Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 5 năm
tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s : 18
TLST-HS ngày
tháng
năm
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s :
QĐXXST-HS ngày 1 tháng năm
đ i với bị cáo:
1. Nguyễn Tấn L (Tên gọi khác: Ti M), sinh năm: 1999, tại: Cần Thơ (Có mặt);
Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện P, thành ph Cần Thơ.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7 1 ;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không; Qu c tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Hồng P, sinh năm: 1979 (S ng) và bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1979 (S ng);
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: lần. Lần 1: Ngày
18 bị Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành ph Cần Thơ xử phạt 3 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; Lần : Ngày 8
1 bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xử phạt năm tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/4/2023).
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 5 17 bị Công an huyện P, thành ph Cần Thơ xử phạt 1. 5 . đồng về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 8 1
3, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an quận N, thành ph Cần Thơ.
2. Phan Thế V, sinh năm: 1993, tại: Cần Thơ (Có mặt).
Nơi cư trú: S E, đường H, phường A, quận N, thành ph Cần Thơ.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 1 ;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không; Qu c tịch: Việt Nam;
Con ông Phan Văn T1 (Chết) và bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 1971 (S ng);
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 7 1 17 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành ph Cần Thơ xử phạt tháng tù về tội “Tiêu thụ tài s n do người khác phạm tội mà có”
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 8 1
3, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an quận N, thành ph Cần Thơ.
- Bị hại:
1. Anh Trƣơng Phú A, sinh năm: 1;
Địa chỉ: S 179, khóm 1, phường 5, thành ph Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
2. Bà Lƣu Thúy H, sinh năm: 199 ;
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ liên lạc: S A, đường s A, KDC M, phường H, quận N, thành ph Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trƣơng Văn Đ, sinh năm: 197 ;
Địa chỉ: S 179, khóm 1, phường 5, thành ph Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
2. Ông Nguyễn Thanh P1, sinh năm: 1993;
Địa chỉ: S A, khu V, phường C, quận Ô, thành ph Cần Thơ.
3. Ông Lê Quang H1, sinh năm: 1979.
Địa chỉ: Khu V, phường G, thành ph V, tỉnh Hậu Giang.
NỘI D NG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào kho ng giờ ngày
1
3, bị cáo Nguyễn Tấn L và bạn là Nguyễn Thành N1 thuê phòng tại khách sạn K, đường Đ, phường X, quận N, thành ph Cần Thơ để cùng sử dụng ma túy. Sau đó, bị cáo L điện thoại cho bị cáo Phan Thế V hỏi xin ma túy để tiếp tục sử dụng; Bị cáo V đồng ý nên bị cáo L mượn xe mô tô biển s 5B1-83 .88 của N1 điều khiển đến khách sạn N để gặp V nhận ma túy. Trong lúc chờ bị cáo V trước khách sạn N , bị cáo L quan sát thấy cạnh khách sạn có dãy nhà trọ không đóng cửa rào, phía trước có 1 xe mô tô Future nên n y sinh ý định lấy trộm. Sau khi nhận được ma túy, bị cáo L quay về khách sạn K và điện thoại cho bị cáo V rủ bị cáo V đến khuya cùng lấy trộm chiếc xe mô tô Future, bị cáo V đồng ý. Sau khi sử dụng ma túy xong, bị cáo L tiếp tục mượn xe mô tô biển s 5B1-83 .88 của N1 điều khiển đến khách sạn N để cùng bị cáo V lấy trộm xe như đã hẹn. Khi đến trước nhà trọ cạnh khách sạn N , bị cáo L gọi điện thoại cho bị cáo V đến; Bị cáo L đứng ngoài c nh giới cho bị cáo V vào bên trong dãy nhà trọ lấy trộm xe mô tô Future nhưng bị cáo V không lấy trộm được xe do bị xe mô tô Vision (Đã khóa cổ) phía bên ngoài c n lại; Sau đó bị cáo L đi vào trong nhà trọ dùng “đo n” bẻ khóa cổ xe mô tô Vision nhưng phát hiện bên trong các phòng trọ có người còn thức, sợ bị phát hiện nên bị cáo L đi ra ngoài lấy xe chở bị cáo V đi tìm xe mô tô khác để lấy trộm nhưng không phát hiện xe nào nên hai bị cáo quay về.
Sau khi về khách sạn N , bị cáo V đến kiểm tra phát hiện xe mô tô V1 đã mở được khóa cổ nên thông báo cho bị cáo L. Đến kho ng 3 giờ phút ngày 7 1
3, bị cáo L đặt dịch vụ xe Grab quay lại nhà trọ cạnh khách sạn Ngô Đ1 và lén lút lấy trộm xe mô tô Honda Vision biển s
F1-1 1. 5. Sau khi lấy trộm được xe, bị cáo L điều khiển xe về nhà tại xã M, huyện P, thành ph Cần Thơ. Trên đường về, bị cáo L gọi điện thoại cho bị cáo V thông báo đã trộm được xe mô tô Vision và còn lại xe mô tô Future; Bị cáo V rủ bị cáo L quay lại để cùng lấy trộm xe mô tô Future, bị cáo L đồng ý. Đến kho ng giờ phút cùng ngày, bị cáo L điều khiển xe mô tô Vision lấy trộm được quay lại nhà trọ cạnh khách sạn Ngô Đăng cùng bị cáo V lấy trộm xe mô tô Honda Future biển s 9 K1-332.79.
Sau khi lấy trộm được tài s n, bị cáo L và bị cáo V điều khiển xe mô tô trộm được đến nhà trọ Mini House 79 tại Khu V, phường L, quận B, thành ph Cần Thơ gặp Nguyễn Thanh P1 và Lê Quang H1 (Cùng ở trọ với P1) để cầm c xe. Sau khi xem xe, P1 đồng ý nhận cầm xe H2 với giá . . đồng, nhưng P1 lấy tiền lãi cầm xe trước là
. đồng nên chỉ còn 5. . đồng, sau đó P1 tiếp tục cấn trừ tiền mà bị cáo V còn thiếu nợ P1 là 1.7 . đồng nên s tiền còn lại là 3.8 . đồng, s tiền này bị cáo L và bị cáo V chia ra để tiêu xài cá nhân. Sau đó, L điều khiển xe mô tô Honda Vision biển s F1-1 1. 5 về khách sạn K. Đến sáng cùng ngày, bị cáo V đến khách sạn K mượn xe Honda Vision để sử dụng, bị cáo L đồng ý đưa xe cho bị cáo V và đề nghị bị cáo V lắp thay biển s 7 T1-7 vào xe để sử dụng. Đến chiều cùng ngày, bị cáo V chạy xe Honda Vision gắn biển s 7 T1- 7 đến khách sạn M1 trên đường L, phường A thì bị Công an phường H mời làm việc, tạm giữ xe mô tô Honda Vision gắn biển s 7 T1-4676.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 1 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu nâu vàng, s máy: 9 K1-332.79, s khung: 5388EZ 115, gắn biển s 5B1- 3 . 9; 1 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, s máy: JF33E 1798 , s khung: RLHJF331XDY5378 3, gắn biển s 7 T1-4 7 ; 1 (Một) biển kiểm soát s 5B1- 3 . 9; 1 biển kiểm soát s 94K1-332.79.
- 1 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo, 1 (Một) cái áo khoác màu đen có hiệu chữ “REBOOT”, tạm giữ của bị can Phan Thế V; 1 (Một) điện thoại di động hiệu S J8, 1 (Một) áo khoác màu đen có hiệu chữ “C” tạm giữ của bị can L; 02 (Hai) đoạn kim loại có 1 đầu dẹp, 1 đầu lục giác; 1 (Một) cờ lê loại 8mm, có 1 đầu vòng tròn và 1 đầu miệng.
Đ i với xe mô tô Honda Future biển s 9 K1-33 .79, sau khi nhận cầm xe đến trưa cùng ngày 7 1
3, Nguyễn Thanh P1 P1 cho Lê Quang H1 mượn xe để sử dụng và yêu cầu H1 lấy biển kiểm soát s 5B1- 3 . 9 có sẵn tại phòng trọ thay vào xe trước khi sử dụng. Đến khi bị mời làm việc, H1 đã giao nộp lại xe mô tô Honda Future gắn biển s 5B1-230.09.
Đ i với xe mô tô Honda Future biển s 9 K1-332.79 qua xác minh do ông Trương Văn Đ (Cha ruột anh Trương Phú A) là chủ sở hữu, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng tr lại 1 xe mô tô trên cho ông Trương Văn Đặng .
Đ i với xe mô tô Honda Vision biển s
F1-161.65 qua xác minh do bà Lưu Thúy H là chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng tr lại 1 xe mô tô trên cho bà Lưu Thúy Huỳnh .1
Đ i với biển kiểm soát s 65B1- 3 . 9 qua tra cứu là biển s được cấp cho xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo 5, s máy 1DB1 7 8 3, s khung RLCN1DB10CY070806 do bà Vũ Thị Diễm L1 là đứng tên đăng ký sở hữu, đã bán lại cho ông Võ Thành P2. Xe mô tô trên là tài s n bị chiếm đoạt trong vụ trộm cắp tài s n x y ra ngày 1
3 tại phường A, đã được tiến hành khởi t , điều tra theo Quyết định khởi t vụ án hình sự s 31 QĐ-ĐCSHS ngày 19 1
3. Do đó, Cơ quan điều tra đã bàn giao biển s xe trên để tiến hành điều tra làm rõ xử lý theo vụ án trên.
Đ i với biển s xe 7 T1- 7 , gắn trên xe mô tô Honda Vision khi tạm giữ, bị cáo Nguyễn Tấn L khai sau khi rời khỏi nhà nghỉ T3 đã chạy đến gần Bệnh viện Nhi đồng thành ph C tìm mua thức ăn thì nhặt được biển s 7 T1- 7 nên cất giấu vào trong c p xe. Qua tra cứu, biển s 7 T1- 7 được cấp cho xe mô tô nhãn hiệu GUIDA, s máy VTTJL1P5 FMH 53737, s khung RRKWCHXUM7X053737 do ông Võ Thành D (Cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh) đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh, ông D không thừa nhận có sở hữu xe mang biển s như trên.
Tại B n kết luận định giá tài s n s : 181 KL-HĐGĐ ngày 13 1
3 của Hội đồng định giá tài s n trong t tụng hình sự quận N xác định: trị giá của xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển s
F1-1 1. 5 là: 15. . đồng; Trị giá của xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển s 9 K1-33 .79 là: 19. . đồng. Tổng trị giá là 34.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Tấn L và bị cao Phan Thế V thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Ngoài vụ trộm cắp tài s n nêu trên, bị cáo Nguyễn Tấn L khai nhận, vào đầu tháng 1
3 đã thực hiện 1 vụ trộm cắp xe mô tô kiểu dáng Wave màu đỏ, biển s : 9K1- 38 tại ấp M, xã M, huyện P, thành ph Cần Thơ, đã bán cho một đ i tượng không rõ nhân thân lai lịch. Vụ việc x y ra trên địa bàn huyện P, nên Cơ quan C nh sát điều tra, Công an quận N đã thông báo cho Cơ quan C nh sát điều tra, Công an huyện P để gi i quyết theo thẩm quyền.
Đ i với Nguyễn Thanh P1 và Lê Quang H1 đã nhận cầm xe mô tô Honda Future từ bị cáo L và bị cáo V có dấu hiệu tội “Tiêu thụ tài s n do người khác phạm tội mà có”, tuy nhiên, vụ việc x y ra trên địa bàn quận B, thành ph Cần Thơ nên Cơ quan C nh sát điều tra, Công an quận N đã có văn b n thông báo đến Cơ quan C nh sát điều tra, Công an quận B, thành ph Cần Thơ để gi i quyết theo thẩm quyền.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài s n nên không có yêu cầu gì thêm.
Tại b n Cáo trạng s 33 CT-VKSNK ngày 3 1
của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành ph Cần Thơ đã truy t bị cáo Nguyễn Tấn L về tội “Trộm cắp tài s n” theo điểm g kho n Điều 173 Bộ luật hình sự; Truy t bị cáo Phan Thế V về tội “Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà,
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công t tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy t các bị cáo về tội danh và điều kho n áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g kho n Điều 173, điểm g kho n 1 Điều 5 , điểm s kho n 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 15, sửa đổi, bổ sung năm 17 tuyên phạt bị cáo Nguyễn Tấn L từ 3 năm đến 3 năm tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n”.
Áp dụng kho n 1 Điều 173, điểm g kho n 1 Điều 5 , điểm s kho n 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 15, sửa đổi, bổ sung năm 17 tuyên phạt bị cáo Phan Thế V từ năm đến năm tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n”.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 7, Điều 8 Bộ luật Hình sự, Điều 1 Bộ luật T tụng hình sự:
+ Ghi nhận Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng tr lại xe mô tô Honda Future biển s 9 K1-332.79 cho anh Trương Phú A và tr lại xe mô tô Honda Vision biển s F1-161.65 cho bà Lưu Thúy H
+ Tr lại cho bị cáo Nguyễn Tấn L 1 (Một) điện thoại di động hiệu S J8 và 1 (Một) áo khoác màu đen có hiệu chữ “C”. Tr cho bị cáo Phan Thế V 1 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo và 1 (Một) cái áo khoác màu đen có hiệu chữ “REBOOT” .
+ Tịch thu tiêu hủy: (Hai) đoạn kim loại có 1 đầu dẹp, 1 đầu lục giác; 1 (Một) cờ lê loại 8mm, có 1 đầu vòng tròn và 1 đầu miệng; Biển s xe 7 T1-4676.
Bị cáo Nguyễn Tấn L và bị cáo Phan Thế V thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét gi m nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về hòa nhập cộng đồng.
NH N ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật t tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ ] Về trách nhiệm hình sự, xét thấy lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Vào ngày 07/10/2023, lợi dụng sơ hở trong việc qu n lý tài s n của bị hại, bị cáo Nguyễn Tấn L và bị cáo Phan Thế V lấy trộm tài s n là xe mô tô Honda Future biển s 9 K1-33 .79 của anh Trương Phú A và xe mô tô Honda Vision biển s 64F1-1 1. 5 của bà Lưu Thúy Huỳnh .1
Tại B n kết luận định giá tài s n s : 181 KL-HĐGĐ ngày 13 1
3 của Hội đồng định giá tài s n trong t tụng hình sự quận N xác định: trị giá của xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển s
F1-1 1. 5 là: 15. . đồng; Trị giá của xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển s 9 K1-33 .79 là: 19. . đồng. Tổng trị giá là 34.000.000 đồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo Phan Thế V đã đủ yếu t cấu thành tội “Trộm cắp tài s n” quy định tại kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Riêng đ i với bị cáo Nguyễn Tấn L có tiền án chưa được xóa án tích nên với hành vi phạm tội này thuộc tình tiết tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm g kho n Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành ph Cần Thơ truy t các bị cáo theo tội danh và điều kho n đã viện dẫn là có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo trong vụ án:
Các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công từ trước, do đó, chỉ xác định là đồng phạm gi n đơn. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài s n hợp pháp của cá nhân được pháp luật b o vệ, gây nh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương. Các bị cáo đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi nên vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần ph i có hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung.
[ ] Về tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i c i nên được hưởng tình tiết gi m nhẹ quy định tại điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong ngày 07/4/2024 các bị cáo thực hiện hai vụ trộm cắp, tài s n chiếm đoạt mỗi vụ đều trên . . đồng nên các bị cáo ph i chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm sự “Phạm tội lần trở lên” theo quy định tại điểm g kho n 1 Điều 5 Bộ Luật hình sự.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy cần ph i áp dụng một hình phạt tương xứng và cách ly ra khỏi đời s ng xã hội một thời hạn nhất định để các bị cáo ăn năn, h i lỗi đ i với hành vi phạm tội của mình và thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm c i tạo, học tập, tu dưỡng để trở thành người có ích cho xã hội sau này. Do vậy, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đ i với mỗi bị cáo là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng:
+ Ghi nhận Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng tr lại xe mô tô Honda Future biển s 9 K1-332.79 cho anh Trương Phú A và tr lại xe mô tô Honda Vision biển s F1-1 1. 5 cho bà Lưu Thúy Huỳnh
+ Đ i với 1 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J8 của Nguyễn Tấn L và 1 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo của Phan Thế V, do các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
+ Đ i với 1 (Một) cái áo khoác màu đen có hiệu chữ “REBOOT”; 1 (Một) áo khoác màu đen có hiệu chữ “C”; (Hai) đoạn kim loại có 1 đầu dẹp, 1 đầu lục giác; 1 (Một) cờ lê loại 8mm, có 1 đầu vòng tròn và 1 đầu miệng là công cụ, phương tiện các bị cáo đã sử dụng thực hiện hành vi phạm tội do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
+ Đ i với biển s xe 7 T1-4676 do không xác định được chủ sở hữu và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại anh Trương Phú A và bà Lưu Thúy H đã nhận lại tài s n, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét gi i quyết.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh P1 không yêu cầu các bị cáo hoàn tr lại s tiền nhận cầm xe là . . đồng nên không đặt ra xem xét.
[8] Đ i với vụ trộm cắp tài s n xe mô tô kiểu dáng Wave màu đỏ, biển s : 69K1- 38 tại ấp M, xã M, huyện P, thành ph Cần Thơ do bị cáo Nguyễn Tấn L thực hiện do x y ra trên địa bàn huyện P, nên Cơ quan C nh sát điều tra, Công an quận N đã thông báo cho Cơ quan C nh sát điều tra, Công an huyện P để gi i quyết theo thẩm quyền.
Đ i với Nguyễn Thanh P1 và Lê Quang H1 đã nhận cầm xe mô tô Honda Future từ bị cáo L và bị cáo V có dấu hiệu tội “Tiêu thụ tài s n do người khác phạm tội mà có”. Tuy nhiên, vụ việc x y ra trên địa bàn quận B, thành ph Cần Thơ nên Cơ quan C nh sát điều tra, Công an quận N đã có văn b n thông báo đến Cơ quan C nh sát điều tra, Công an quận B, thành ph Cần Thơ để gi i quyết theo thẩm quyền.
[9] Về án phí: Các bị cáo ph i chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
YẾT ĐỊNH:
1. Tuyên b : Bị cáo Nguyễn Tấn L và bị cáo Phan Thế V phạm tội “Trộm cắp tài s n”.
2. Áp dụng điểm g kho n Điều 173, điểm g kho n 1 Điều 5 , điểm s kho n 1 Điều 51, Điều 5 , Điều 38 Bộ luật hình sự năm 15, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn L 3 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài s n” Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 8 1
3.
Áp dụng kho n 1 Điều 173, điểm g kho n 1 Điều 5 , điểm s kho n 1 Điều 51, Điều 5 , Điều 38 Bộ luật hình sự năm 15, sửa đổi, bổ sung năm 17.
Xử phạt: Bị cáo Phan Thế V (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài s n”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam ngày 08/10/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 7 Bộ luật hình sự, điều 1 Bộ luật t tụng hình sự:
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước: 1 (Một) điện thoại di động hiệu S Galaxy J8 của bị cáo Nguyễn Tấn L và 1 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo của bị cáo Phan Thế V.
+ Tịch thu tiêu hủy: 1 (Một) cái áo khoác màu đen có hiệu chữ “REBOOT”; 1 (Một) áo khoác màu đen có hiệu chữ “C”; (Hai) đoạn kim loại có 1 đầu dẹp, 1 đầu lục giác; 1 (Một) cờ lê loại 8mm, có 1 đầu vòng tròn và 1 đầu miệng; Biển s xe 7 T1-4676.
(Các vật chứng kèm theo quyết định chuyển vật chứng s 5 QĐ-VKSNK ngày 3 1
và biên b n giao nhận vật chứng ngày 31 1
).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 3 Nghị quyết s 3
1 UBTVQH ngày 3 1 1 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn T và bị cáo Phan Thế V mỗi bị cáo ph i chịu . đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật t tụng hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được b n án hoặc b n án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa - TAND TP.Cần Thơ; - VKSND Q.Ninh Kiều; - CA Q.Ninh Kiều; - Chi cục THADS Q.Ninh Kiều; - Sở Tư pháp TP . Cần Thơ; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa án. | Văng Thị Ngọc Yến |