vanban.org

Bản án 62/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa anh Hoàng Phi H và chị Nguyễn Thị Hp.

Con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Hp trực tiếp nuôi con Hoàng Anh Ph; sinh ngày: 30-10-2006; giới tính: nam. Anh Hoàng Phi H không phải cấp dưỡng nuôi con. Không ai được cản trở các quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Phi Hùng - Nguyễn Thị Hiệp - LH"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa anh Hoàng Phi H và chị Nguyễn Thị Hp.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-01-2024
V/v: Tranh chấp ly hôn giữa anh
Hoàng Phi H và chị Nguyễn Thị Hp

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Lan

Ông Đỗ Quang Chung

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.

Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 451/2023/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Phi H, sinh năm 1983; nơi cư trú: số nhà 70, đường T, phường L, thành phố N; vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hp, sinh năm 1983; đăng ký thường trú: thôn T 2, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: số nhà 46, đường 4, khu phố 6, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 26-5-2023 và tại bản tự khai ngày 21-11-2023, nguyên đơn là anh Hoàng Phi H trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Hp kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường L thành phố N ngày 22 tháng 3 năm 2005. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp và không thấu hiểu nhau. Từ năm 2007, chị nguyễn Thị Hp đưa con về nhà mẹ đẻ ở Thanh Hóa sau đó vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, vợ chồng ly thân thân từ đó đến nay. Anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Nguyễn Thị Hp vì tình cảm vợ chồng không còn.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị Hp có 01 con chung là Hoàng Anh Ph, sinh ngày: 30-10-2006; giới tính: nam. Nếu ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao con cho chị trực tiếp nuôi con Nguyễn Thị Hp. Về cấp dưỡng nuôi con anh và chị Nguyễn Thị Hp tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 11-12-2023, bị đơn là chị Nguyễn Thị Hp trình bày: Chị và anh Hoàng Phi H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường L thành phố N ngày 22-3-2005. Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn ngay sau khi kết hôn do không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Vợ chồng ly thân từ năm 2007 đến nay, mỗi người sống một nơi và không có trách nhiệm gì với nhau. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Hoàng Phi H vì tình cảm vợ chồng không còn.

Về con chung: Chị và anh Hoàng Phi H có 01 con chung là Hoàng Anh Phúc, sinh ngày: 30-10-2006; giới tính: nam. Nếu ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cho chị trực tiếp nuôi con theo nguyện vọng của cháu. Về cấp dưỡng nuôi con chị và anh Hoàng Phi H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là chị Nguyễn Thị Hp cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh có đơn lựa chọn Tòa án thành phố N là nơi giải quyết vụ án; nguyên đơn và bị đơn và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; do đó Tòa án nhân dân thành phố N thụ lý vụ án và xét xử vắng mặt anh Hoàng Phi H và chị Nguyễn Thị Hp theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Phi H và chị Nguyễn Thị Hp kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Lộc Hạ, thành phố N, tỉnh Nam Định vào ngày 22-3-2005 nên là hôn nhân hợp pháp. Ngay sau khi kết hôn, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2007 đến nay. Anh Hoàng Phi H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Nguyễn Thị Hp; chị Nguyễn Thị Hp cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Hoàng Phi H và chị Nguyễn Thị Hp đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Hoàng Phi H.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị Hp có 01 con chung là Hoàng Anh Ph, sinh ngày: 30-10-2006; giới tính: nam. Anh Hoàng Phi H và chị Nguyễn Thị Hp đều đề nghị Tòa án giao con cho chị Nguyễn Thị Hp trực tiếp nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Cháu Hoàng Anh Ph có đơn trình bày nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Do đó, giao cho chị Nguyễn Thị Hp trực tiếp nuôi con chung là Hoàng Anh Phúc; không buộc anh Hoàng Phi H phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Anh Hoàng Phi H và chị Nguyễn Thị Hp đều trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Hoàng Phi H là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xử ly hôn giữa anh Hoàng Phi H và chị Nguyễn Thị Hp.

2. Con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Hp trực tiếp nuôi con Hoàng Anh Ph; sinh ngày: 30-10-2006; giới tính: nam. Anh Hoàng Phi H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Không ai được cản trở các quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Hoàng Phi H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Đối trừ khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) anh Hoàng Phi H đã nộp tại biên lai số 0001775 ngày 06-11-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, anh Hoàng Phi H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn là anh Hoàng Phi H, bị đơn là chị Nguyễn Thị Hp có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ