vanban.org

Bản án 62/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thùy T.

Chị Dương Thùy T được ly hôn với anh Tống Văn Q Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn: Chị Dương Thùy T và anh Tống Văn Q không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thùy T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22-5-2024
V/v:“Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Phong

Ông Nguyễn Văn Tưởng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Nhựt – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại phòng xét xử của Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình oHo6nthụ lý số: 392/2023/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Dương Thùy T, sinh năm 1992. Nơi cư trú: ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Anh Tống Văn Q, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Số nhà H ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Dương Thùy T trình bày:

Chị và anh Tống Văn Q quen biết nhau vào khoảng năm 2012, sau một thời gian tìm hiểu anh chị quyết định tiến tới hôn nhân và được hai bên gia đình đồng ý tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre vào ngày 22/04/2014. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2017 thì giữa anh, chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh Q thưởng xuyên ăn nhậu rồi về chửi mắng chị một cách thô tục và đánh đập, bạo hành chị rất nhiều lần làm cho chị khủng hoảng tinh thần trầm trọng và vô cùng tuyệt vọng, khi không còn chịu đựng được nữa nên đầu năm 2019 chị đã đem con về nhà cha mẹ ruột ở ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh tá túc cho đến nay. Chị đã ly thân với anh Tống Văn Q đã hơn 4 năm, nhận thấy quan hệ vợ chồng giữa chị và anh Q là không thể hàn gắn được do không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nay tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Tống Văn Q.

- Về con chung: Cháu Tống Thị Thủy T1, sinh ngày 18/6/2014 hiện đang sống với chị tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh Tống Văn Q cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh Tống Văn Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thùy T về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Tống Văn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, anh Tống Văn Q không đến Tòa để tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại khoản 16 Điều 70, khoản 1 Điều 72 của Bộ luật tố Tụng Dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 8, 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

Về hôn nhân: Chị Dương Thùy T được ly hôn với anh Tống Văn Q. Chị Dương Thùy T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng nên không xem xét.

Về con chung: Giao cháu Tống Thị Thủy T1, sinh ngày 18/06/2014 cho chị Dương Thùy T trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, anh Q không cấp dưỡng nuôi con do chị T không có yêu cầu nên không xem xét.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về nợ chung: Chị Dương Thùy T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Dương Thùy T vụ án có quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn”, bị đơn anh Tống Văn Q có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn chị Dương Thùy T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Tống Văn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn không có mặt. Việc anh Q vắng mặt không rõ lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt chị T, anh Tống Văn Q là đúng theo quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét thấy, chị Dương Thùy T và anh Tống Văn Q có tìm hiểu nhau mới tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre ngày 22/4/2014 nên là hôn nhân hợp pháp. Hôn nhân của anh chị được xây dựng trên tinh thần tự nguyện và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Về hôn nhân: Sau khi kết hôn chị Dương Thùy T và anh Tống Văn Q có thời gian sống chung hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng không thể hàn gắn được. Theo biên bản xác minh ngày 05/4/2024 của Tòa án đối với bà Phan Thị L là mẹ ruột của anh Tống Văn Q cho biết: Chị T và anh Tống Văn Q tiến đến hôn nhân là do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, trong thời gian sống chung thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các giấy báo cho anh Tống Văn Q, nhưng anh Q không đến Tòa án, không có văn bản nêu ý kiến về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung theo yêu cầu khởi kiện của chị T. Như vậy, cho thấy anh Tống Văn Q biết việc chị Dương Thùy T yêu cầu ly hôn với anh tại Tòa án nhưng anh không đến Tòa án theo nội dung đã thông báo, triệu tập chứng tỏ anh Tống Văn Q không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng, không muốn vợ chồng hòa giải đoàn tụ với nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Dương Thùy T và anh Tống Văn Q đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Dương Thùy T yêu cầu xin ly hôn với anh Tống Văn Q là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Cháu Tống Thị Thủy T1, sinh ngày 18/06/2014 hiện đang sống chung với mẹ, chị Dương Thùy T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cháu Thủy T1 có nguyện vọng sống với mẹ, nên giao con chung cho chị Dương Thùy T trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là đúng quy định của pháp luật, anh Tống Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Dương Thùy T không có yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Dương Thùy T trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị Dương Thùy T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng: Chị Dương Thùy T không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Dương Thùy T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo qui định tại Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng các Điều 8, 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thùy T.

Chị Dương Thùy T được ly hôn với anh Tống Văn Q

Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn: Chị Dương Thùy T và anh Tống Văn Q không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

2. Về con chung: Chị Dương Thùy T trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng Tống Thị Thủy T1, sinh ngày 18/06/2014, anh Tống Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Dương Thùy T không có yêu cầu nên không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ, cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con

3. Về tài sản chung: Chị Dương Thùy T trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Dương Thùy T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Dương Thùy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 00000388 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

6. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ