vanban.org

Bản án 62/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim V về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Kim V ly hôn với anh Bùi Hoàng N. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2017 và cháu Bùi Nguyễn Duy K, sinh ngày 24 tháng 01 năm 2018 cho chị Nguyễn Thị Kim V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Nguyễn Thị Kim V. BĐ: Bùi Hoàng N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim V về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST
Ngày 08 tháng 8 năm 2024
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Tú Huân, ông Võ Ánh Sửu

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Hằng, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phan Đình Toàn - Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 106/2024/TLST–HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57A/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 38A/2024/QĐST–HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim V, sinh năm 1999 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn 8, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Anh Bùi Hoàng N, sinh năm 1998 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn 8, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, chị Nguyễn Thị Kim V trình bày:

Chị với anh Bùi Hoàng N là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 04 tháng 11 năm 2019, tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai và có 02 con chung (cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 08 tháng 01, năm 2017 và cháu Bùi Nguyễn Duy K, sinh ngày 24 tháng 01 năm 2018). Trong quá trình chung sống, anh chị có quá nhiều mâu thuẫn, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh N. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi con chung đến tuổi trưởng thành. Chị yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con mức 5.000.000đ/tháng. Về tài sản chung và nợ chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, chị thay đổi nội dung khởi kiện. Chị chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân, con chung. Còn về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản sao Giấy chứng nhận kết hôn số 70 ngày 04 tháng 11 năm 2019 của Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai chứng nhận:

Chị Nguyễn Thị Kim V và anh Bùi Hoàng N đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai ngày 04 tháng 11 năm 2019.

Tại Biên bản xác minh, Ủy ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk cung cấp thông tin sau:

Chị Nguyễn Thị Kim V và anh Bùi Hoàng N có xẩy ra mâu thuẫn gia đình. Anh N đi khỏi địa phương, sống ly thân với chị Vân.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Khẳng định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Chị V có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh N mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; 227; 228; 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 14, 15, 16, 51, 53, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận nội dung khởi kiện của chị Vân về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con, cho chị V ly hôn với anh N. Giao con chung cho chị V nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

. Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thụ lý vụ án:

+ Chị V và anh N là vợ chồng (Có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật). Trong quá trình chung sống, anh chị có con chung với nhau. Hiện nay, chị V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con. Như vậy quan hệ pháp luật ở đây là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

+ Chị V khởi kiện và có nộp tiền tạm ứng án phí. Anh N có hộ khẩu thường trú ở huyện E, tỉnh Đắk Lắk, vì vậy Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk căn cứ vào các Điều 35; 39; khoản 3 Điều 195 của BLTTDS để thụ lý vụ án.

. Về thủ tục tố tụng:

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được. Chị V có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh N mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Tòa án căn cứ Điều 227; 228; 238 của BLTTDS tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

. Về nội dung quan hệ pháp luật có tranh chấp:

Đối với yêu cầu khởi kiện của chị V, thì Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Trong thời kỳ hôn nhân, chị V và anh N phát sinh mâu thuẫn dẫn đến anh chị không còn sống chung, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị V đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện tại giữa chị V và anh N, cho nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V và chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, cho chị V ly hôn với anh N.

+ Về con chung:

Chị V và anh N có 02 con chung là cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2017 và cháu Bùi Nguyễn Duy K, sinh ngày 24 tháng 01 năm 2018. Nguyện vọng của chị V là được nuôi dưỡng con chung. Quá trình giải quyết vụ án, anh N không hợp tác, còn cháu K bận đi học nên không ghi nhận được ý kiến, vì vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, giao con chung cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi).

+ Về cấp dưỡng nuôi con:

Trong đơn khởi kiện chị V yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con với mức 5.000.000đ/tháng. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, chị Vân thay đổi nội dung đơn khởi kiện. Chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

+ Về tài sản chung và nợ chung:

Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Vì đây là vụ án ly hôn, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, thì nguyên đơn (Chị V) vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; 228; 238; 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 51; 53 ; 56 ; 57 ; 81; 82; 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim V về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con.

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Kim V ly hôn với anh Bùi Hoàng N.

+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2017 và cháu Bùi Nguyễn Duy K, sinh ngày 24 tháng 01 năm 2018 cho chị Nguyễn Thị Kim V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi).

Anh Bùi Hoàng N có quyền, nghĩa vụ chăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp anh N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, thì chị V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh N.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim V phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn. Được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi thành án dân sự huyện E theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0001917 ngày 20 tháng 3 năm 2024.

3. Về quyền và thời hạn kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ