- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Vũ - Thiện + Ngân"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trịnh Ngọc V.
- Căn cứ chính? Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2024/DS-ST Ngày 02 – 4 – 2024 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thúy Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đoàn Thị Sim
Ông Đào Việt Khái
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 02 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 607/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2024, về việc “Tranh chấp hụi” giữa:
Nguyên đơn: Ông Trịnh Ngọc V, sinh năm: 1964 (Có mặt).
Nơi cư trú: Ấp Quảng Phú, xã Tân Hưng Tây, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đinh Thị Th, sinh năm: 1988. Nơi cư trú: Ấp Cái Đôi, xã Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo Giấy ủy quyền ngày 29/01/2024 (Có mặt).
Bị đơn: Bà Trịnh Thị Ng, sinh năm: 1969 (Vắng mặt).
Ông Đỗ Văn Th, sinh năm: 1965 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp Ba Tiệm, xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 22/12/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đinh Thị Th trình bày:
Ông Trịnh Ngọc V có chơi hụi do ông Đỗ Văn Th, bà Trịnh Thị Ng làm chủ và đứng ra tổ chức thu tiền hụi viên. Trong quá trình tham gia chơi hụi, ông Th, bà Ng tuyên bố bể hụi và còn nợ ông V số tiền của các dây hụi, cụ thể như sau:
Dây hụi thứ nhất: Khui ngày 05/5/2014 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần vào ngày 05 hàng tháng, hụi gồm 29 chưng, tiền huê hồng hụi là 500.000 đồng, ông V tham gia 01 chưng, hụi chưa mãn. Ông V đóng hụi đầy đủ cho ông Th, bà Ng đến ngày 05/8/2015 âm lịch kỳ thứ 15 thì ông Th, bà Ng tuyên bố ngừng hụi và hai bên kết nợ bằng miệng, ông Th, bà Ng còn nợ ông V số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng).
Dây hụi thứ hai: Khui ngày 20/7/2014 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần vào ngày 20 hàng tháng, gồm 32 chưng, tiền huê hồng hụi là 500.000 đồng, ông V tham gia 01 chưng, hụi chưa mãn. Ông V đóng hụi đầy đủ cho ông Th, bà Ng đến ngày 05/8/2015 âm lịch kỳ thứ 13 thì ông Th, bà Ng tuyên bố ngừng hụi và hai bên kết nợ bằng miệng, ông Th, bà Ng còn nợ ông V số tiền 14.000.000 đồng.
Nay ông V yêu cầu Tòa án buộc ông Th, bà Ng thanh toán cho ông V số tiền nợ hụi là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng). Ngoài ra ông V không yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn và Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu cụ thể như sau:
Dây hụi khui ngày 05/5/2014 do nhầm lẫn trong khâu tính toán nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng). Nay nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 15.000.000 đồng trừ tiền cò 500.000 đồng, còn lại là 14.500.000 đồng (Mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Dây hụi khui ngày 20/7/2014 do nhầm lẫn trong khâu tính toán nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng). Nay nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 13.000.000 đồng trừ tiền cò 500.000 đồng, còn lại là 12.500.000đồng (Mười hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
Tổng cộng hai dây hụi là 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng).
Đối với ông Đỗ Văn Th, bà Trịnh Thị Ng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định phân công thẩm phán, thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhiều lần nhưng ông Th, bà Ng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Đồng thời, không gửi văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tranh chấp giữa nguyên và bị đơn được xác định là tranh chấp hụi, ông Đỗ Văn Th, bà Trịnh Thị Ng là bị đơn, có nơi cư trú tại Ấp Ba Tiệm, xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Đỗ Văn Th, bà Trịnh Thị Ng được Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thủ tục tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện: Ông V chỉ yêu cầu ông Đỗ Văn Th, bà Trịnh Thị Ng thanh toán số tiền hụi còn thiếu của hai dây hụi là 27.000.000đồng (Hai mươi bảy triệu đồng), ngoài ra không yêu cầu gì thêm. Xét thấy, việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là sự tự nguyện và là quyền tự định đoạt của đương sự, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu có lợi cho các bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung tranh chấp của vụ án: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định vợ chồng ông Đỗ Văn Th, bà Trịnh Thị Ng còn nợ nguyên đơn số tiền 27.000.000 đồng, đây là tổng số tiền của 02 dây hụi khác nhau.
Xét yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy: Việc thỏa thuận tổ chức chơi hụi giữa các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật. Khi ông Đỗ Văn Th, bà Trịnh Thị Ng tổ chức chơi hụi, mời các hụi viên cùng nhau góp vốn có lập danh sách hụi viên tuy không đăng ký, không được công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền nhưng theo lời trình bày của nguyên đơn và những người biết sự việc là hụi viên đã tham gia chơi hụi do ông Th, bà Ng làm chủ được thể hiện trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa như sau: Việc các đương sự giao dịch hụi thực tế có xảy ra, quá trình chơi hụi ông Đỗ Văn Th, bà Trịnh Thị Ng là người đứng ra tổ chức chơi hụi (chủ hụi), khi không còn khả năng thanh toán tiền cho các hụi viên dẫn đến tuyên bố bể hụi, dừng tất cả các hoạt động liên quan đến hụi nhưng ông Th, bà Ng không cùng với các hụi viên kết nợ, tìm cách giải quyết số tiền còn nợ cho các hụi viên mà lại bỏ địa phương đi đến nay không về địa phương. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án các bị đơn không đến Tòa cũng không gửi ý kiến để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, không cung cấp chứng cứ chứng minh. Chính vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án hoàn toàn phù hợp.
Với phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc các bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền hụi là 27.000.000đồng (Hai mươi bảy triệu đồng) là phù hợp.
Trong số tiền hụi nguyên đơn yêu cầu có phần lãi hụi nhưng nguyên đơn, không đặt ra yêu cầu điều chỉnh. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không nhớ chính xác số tiền bỏ hụi của từng lần bỏ thăm để được hốt hụi nên Hội đồng xét xử không xem xét việc điều chỉnh.
Về thời gian và phương thức thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu vợ chồng ông Thiện, bà Ngân thanh toán một lần tiền hụi còn thiếu. Hội đồng xét xử xét thấy, việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án này.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nguyên đơn không phải chịu, bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 15, Điều 18, Điều 21, khoản 2 Điều 22, Điều 23, Điều 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Căn cứ Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 12, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trịnh Ngọc V.
Buộc ông Đỗ Văn Th, bà Trịnh Thị Ng thanh toán cho ông Trịnh Ngọc V số tiền hụi là 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng).
Kể từ ngày ông Trịnh Ngọc V có đơn yêu cầu thi hành án, ông Đỗ Văn Th, bà Trịnh Thị Ng không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
Án phí dân sự sơ thẩm: ông Đỗ Văn Th, bà Trịnh Thị Ng phải chịu số tiền 1.350.000đồng (Một triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng, chưa nộp). Ông Trịnh Ngọc V không phải chịu án phí. Ngày 25/12/2023, ông Trịnh Ngọc V đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 750.000đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0003137, ông V được nhận lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS huyện Phú Tân; - Các đương sự; - Hồ sơ vụ án; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thúy Dung |