vanban.org

Bản án 62/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18-11-2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu và cho tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 1.2831 ga… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 62/2023/HSST
Ngày 30-5-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Quang Tuyến

2. Bà Nguyễn Tƣờng Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Chí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc , tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2023/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

- Nguyễn Thị M, sinh năm 1986; Tại: P, tỉnh Hậu Giang;

Nơi ĐKHKTT: Ấp F, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Nơi ở: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nữ; Trình độ văn hóa: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1950 (chết) và bà Lê Thị D, sinh năm 1955 (còn sống); Chồng Nguyễn Minh T, sinh năm 1976 (ly hôn); Con có 04 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2021. Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 18-11-2022 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thị M sử dụng ma túy vào khoảng cuối năm 2020, loại Methamphetamin (ma túy đá). Vào khoảng 21 giờ, ngày 17-11-2022, Mơ đi bộ đến khu vực Sân bay P, thuộc địa bàn Khu phố E, phường D, thành phố P gặp một người nam giới tên T1 (chưa rõ nhân thân) mua 01 bịch ma túy đá với giá 1.200.000.000đ. Mơ mang ma túy về sử dụng 01 lần, số ma túy còn lại chia ra thành 02 bịch nhỏ, cất giấu vào bên trong móc khóa bằng nhựa màu vàng mang trong người, mục đích để sử dụng.

Khoảng 5 giờ, ngày 18-11-2022, Mơ mang túi móc khóa, bên trong đựng ma túy đến phòng C4, nhà nghĩ T thuộc Khu phố A, phường D để nghĩ. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Công an thành phố P kiểm tra phòng C4, nhà nghĩ Thanh T2 phát hiện M đang tàng trữ trái phép 02 bịch ma túy trong túi móc khóa để trên mũ bảo hiểm, nên lập biên bản bắt quả tang. Ngày 25-11-2023, Mơ bị Cơ quan điều tra - Công an thành phố Phú Quốc khởi tố, tạm giam để điều tra.

Vật chứng thu giữ:

- 01 bịch nylon màu trắng, có rãnh cài viền màu đỏ, có kích thước 04em x 7,4cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất;

- 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, có kích thước 1.5em x 2,5cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất;

- 01 Túi móc khóa bằng nhựa màu vàng;

- 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động, hiệu S Z Flip 4, màu tím, số IMEI 1: 3531855441592021/01; số IMEI2: 358325551592024/01, đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số: 1130/KLMT-KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,4345 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Bản cáo trạng số: 62/CT-VKSPQ ngày 26 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Nguyễn Thị M từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về vật chứng thu giữ: Áp dụng khoản 1, Điều 47 BLHS và khoản 2, Điều 106 BLTTHS đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 1,2831 gam ma túy và bao gói đựng mẫu; 01 Túi móc khóa bằng nhựa màu vàng; 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, đã qua sử dụng; Đối với 01 điện thoại di động, hiệu S Z Flip 4, màu tím, số IMEI 1: 3531855441592021/01; số IMEI2: 358325551592024/01, đã qua sử dụng, bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên đề nghị giao trả lại.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã nêu, bị cáo không khai thêm tình tiết mới. Bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố không bị ép cung, bức cung hay nhục hình. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phú Quốc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi kết tội bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong các giai đoạn điều tra, truy tố phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng 11 giờ, ngày 18-11-2022, tại phòng số C4, nhà nghĩ T, thuộc khu phố A, phường D, thành phố P, lực lượng Công an thành phố Phú Quốc bắt quả tang Nguyễn Thị M đang tàng trữ trái phép 1,4345 gam ma túy, loại Methamphetamine, M khai nhận tàng trữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được ma túy là loại chất cấm, do nhà nước là chủ thể độc quyền quản lý. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi phạm pháp luật sẽ bị chế tài nghiêm khắc của pháp luật hình sự. Để thỏa cơn nghiện của mình, bị cáo bất chấp pháp luật cố ý lao vào con đường phạm tội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Trực tiếp, tiếp tay tích cực cho những tệ nạn xã hội ngày càng phát triển, đây là mối đe dọa chung cho cộng đồng và cho toàn xã hội. Vì vậy, cần xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Xét thấy ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 1.2831 gam ma túy và bao gói đựng mẫu và bao gói đựng mẫu đã được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu số 1130/2022, đây là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy. 01 Túi móc khóa bằng nhựa màu vàng và 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, đã qua sử dụng bị cáo sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tôi, móc khóa và mũ bảo hiểm không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động, hiệu S Z Flip 4, màu tím, số IMEI 1: 3531855441592021/01; số IMEI2: 358325551592024/01, đã qua sử dụng, bị cáo không dùng vào việc phạm tội giao trả lại cho bị cáo là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS. [6] Đối với người nam giới tên T1 đã bán ma túy cho các bị cáo, hiện chưa xác định được nhân thân của những người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phú Quốc tiếp tục xác minh, xử lý sau. [7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị M phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Nguyễn Thị M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18-11-2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu và cho tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 1.2831 gam ma túy và bao gói đựng mẫu và bao gói đựng mẫu đã được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu số 1130/2022. Tịch thu cho tiêu hủy 01 Túi móc khóa bằng nhựa màu vàng và 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, đã qua sử dụng. Giao trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, hiệu S Z Flip 4, màu tím, số IMEI 1: 3531855441592021/01; số IMEI2: 358325551592024/01, đã qua sử dụng. (Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc đang quản lý theo biên bản chuyển giao vật chứng ngày 29-5-2023)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang./.

Cỡ chữ