vanban.org

Bản án 62/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Văn Kh, tên gọi khác Trần Đức Kh phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và tội Chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

2/ Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134, Điều 38; các điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn Kh, tên gọi khác Trần Đức Kh 09 (Chín) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; 3/ Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN ĐỨC KH PHẠM TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH VÀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Trần Văn Kh, tên gọi khác Trần Đức Kh phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và tội Chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỆ THUỶ
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2023/HSST
Ngày 26 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Việt và ông Ngô Mậu Hiệu

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Quảng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Ngọc Diện, Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2023/TLST-HS ngày 08/9/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST-HS ngày 11/9/2023, đối với bị cáo:

Trần Văn Kh, tên gọi khác: Trần Đức Kh, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1958 tại xã Ng, huyện L, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Thôn L, xã Ng, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đắc Th và bà Nguyễn Thị H (Đều đã chết); vợ Lê Thị Đ và 04 con, lớn nhất sinh năm 1981 và nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày 05/8/2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ngư Thủy Nam (nay là xã Ngư Thủy) xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, trật tự an toàn xã hội số tiền 2.500.000 đồng, chưa chấp hành. Nhân thân: Ngày 15/02/2008, bị Công an huyện Lệ Thủy xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm về trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/7/2023 cho đến nay, bị áp giải đến phiên tòa hình sự sơ thẩm, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Thanh H, Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Bình. Địa chỉ: Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị hại:

- Ông Trần D, sinh năm 1942 Địa chỉ: Thôn L, xã Ng, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Ông Võ Phước Th, sinh năm 1988 Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Văn B, sinh năm 1995 Địa chỉ: Xóm 3, thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Ông Hoàng Phương Đ, sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn L, xã Ng, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Ông Trần Phương D, sinh năm 1983, địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Ông Võ Đình Phi L, sinh năm 1997, địa chỉ: Thôn Tr, xã Tr, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Ông Trần Văn Th, sinh năm 1965 Địa chỉ: Thôn L, xã Ng, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Ông Trần Đức N, sinh năm 1959 Địa chỉ: Thôn L, xã Ng, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

Người làm chứng:

- Ông Lê Văn D, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn L, xã Ng, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Ông Dương Văn V, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn L, xã Ng, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn L, xã Ng, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 06/01/2023, ông Trần D, sinh năm 1942, trú tại thôn L, xã Ng đi ngang qua nhà của Trần Văn Kh, sinh năm 1958 trú tại thôn L, xã Ng, huyện L, tỉnh Quảng Bình thì bị Trần Văn Kh cầm một cây rựa làm bằng sắt không có cán, lưỡi dài 35cm, bề rộng bản 4 cm, bề dày 0,4 cm chém vào người của ông D, ông D dùng tay trái đỡ thì bị cây rựa trúng vào tay trái làm chảy máu. Thấy vậy, người dân ở xung quanh chạy đến can ngăn rồi đưa ông D đến Trạm y tế xã Ngư Thủy để chữa trị băng vết thương. Nhận được tin báo sự việc, ông Trần Phương D là Phó trưởng Công an xã Ng cử các ông Võ Phước Th, Lê Văn B, Võ Đình Phi L, Hoàng Phương Đ là cán bộ công an xã Ng và ông Lê Văn D là công an viên thôn L, xã Ng đến nhà Trần Văn Kh mời Kh về trụ sở Công an xã Ng để làm việc. Khi lực lượng Công an xã Ng đến thì Kh không chấp hành, cầm rựa và đá đe dọa, chống đối lực lượng Công an xã Ng. Kh cầm đá đã chuẩn bị sẵn để ở trong nhà ném trúng tay trái của ông Võ Phước Th và ném vào phần trước cẳng chân trái ông Lê Văn B là cán bộ Công an xã Ng. Khi ông Th cùng lực lượng Công an xã Ng tiếp cận khống chế Kh thì Kh cầm một viên đá ở tay phải đánh vào đầu của ông Th làm ông Th bị thương, được đưa đến Trạm y tế xã Ng để chữa trị vết thương, ông Lê Văn B bị thương nhẹ.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lệ Thủy tạm giữ: 01 cây rựa, 04 viên đá Trần Văn Kh sử dụng gây thương tích ông Trần D và ông Võ Phước Th.

Ngày 20/02/2023, ông Trần D và ông Võ Phước Th có đơn yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án. Ồng Lê Văn B bị thương nhẹ nên không yêu cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 44/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 08/3/2023, Trung tâm giám định y khoa - pháp y Sở y tế tỉnh Quảng Bình kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Võ Phước Th do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 04% (bốn phần trăm); tính chất thương tích: Các thương tích nêu trên không gây nguy hiểm cho tính mạng; vật gây thương tích: Do vật tày gây ra. Tại bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 45/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 08/3/2023, Trung tâm giám định y khoa - pháp y Sở y tế tỉnh Quảng Bình kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Trần D do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 01% (một phần trăm); tính chất thương tích: Thương tích trên không gây nguy hiểm cho tính mạng; vật gây thương tích: Do vật sắc gây ra.

Ngày 17/5/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lệ Thủy ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 49/QĐ-CSĐT, trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền Trung giám định sức khỏe tâm thần và khả năng nhận thức điều khiển hành vi của Trần Văn Kh tại thời điểm trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 843/KLGĐ ngày 05/7/2023, Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền Trung kết luận đối với Trần Văn Khẳn:

Trước thời điểm gây án:

a. Về y học: Tâm thần phân liệt thể paranoi, tiến triển liên tục (F20.00).

b. Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Tại thời điểm gây án:

a. Về y học: Tâm thần phân liệt thể paranoi, tiến triển liên tục (F20.00).

b. Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Thời điểm hiện tại:

a. Về y học: Tâm thần phân liệt thể paranoi, tiến triển liên tục (F20.00). Đối tượng cần được điều trị ngoại trú liên tục.

b. Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần D yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật. Ông Võ Phước Th và ông Lê Văn B không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKSNDLT ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy đã truy tố Trần Văn Kh về tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và tội Chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134; các điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn Kh từ 09 đến 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích;

Áp dụng khoản 1 Điều 330; các điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn Kh từ 06 đến 09 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội danh trên;

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 cây rựa, 04 viên đá Trần Văn Kh sử dụng gây thương tích ông Trần D và ông Võ Phước Th.

Về án phí: Đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại Luận cứ bào chữa cho bị cáo, ông Lê Thanh Hà, Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Bình trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt bị cáo bị truy tố. Về án phí, đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến gì với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Kh thừa nhận hành vi dùng rựa chém ông D gây thương tích cho ông D là 01%; khi cán bộ Công an xã Ng đến mời về trụ trở Công an xã làm việc liên quan đến hành vi Kh dùng rựa chém ông D, cố thủ trong nhà và dùng đá ném vào cán bộ Công an. Khi cán bộ Công an khống chế Kh thì Kh đã dùng đá cầm sẳn ở tay đánh vào đầu ông Th gây thương tích là 04%, ông D là 01%. Căn cứ lời khai của các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác định: Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 06/01/2023, Trần Văn Kh cầm một cây rựa làm bằng sắt không có cán, lưỡi dài 35cm, bề rộng bản 4 cm, bề dày 0,4 cm chém vào người của ông D, ông D dùng tay trái đỡ thì bị cây rựa trúng vào tay trái làm ông D bị thương tích 01%. Nhận được tin báo sự việc, ông Trần Phương D là Phó trưởng Công an xã Ng cử các ông Võ Phước Th, Lê Văn B, Võ Đình Phi L, Hoàng Phương Đ là cán bộ công an xã Ng và ông Lê Văn D là công an viên thôn L, xã Ng đến nhà Trần Văn Kh mời Kh về trụ sở Công an xã Ngư Thủy để làm việc nhưng Kh không chấp hành, cầm rựa đe dọa; dùng đá đã chuẩn bị sẵn để ở trong nhà ném vào cán bộ Công an xã Ngư Thủy, chống đối lực lượng Công an xã Ngư Thủy. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Văn Kh, tên gọi khác: Trần Đức Kh phạm vào tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và tội Chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thuỷ và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo theo các tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt, đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, trật tự an toàn xã hội và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm về trật tự an toàn giao thông đường bộ

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo gây thương tích cho ông Trần D, sinh năm 1942 nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội đối với người từ đủ 70 tuổi trở lên theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với tội Chống người thi hành công vụ: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, được áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; theo kết luận giám định, tại thời điểm bị cáo phạm tội, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi; bị cáo tham gia nghĩa vụ quân sự từ năm 1981 đến năm 1984 là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định các điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với tội Cố ý gây thương tích: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, được áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây thương tích cho ông Trần Dĩ bị cáo nhờ em ruột là ông Trần Đức N bồi thường thiệt hại cho ông D; theo kết luận giám định, tại thời điểm bị cáo phạm tội, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi; bị cáo tham gia nghĩa vụ quân sự từ năm 1981 đến năm 1984; bị hại Trần D có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định các điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo đã dùng đá ném vào chân ông Lê Văn B nhưng gây thương tích nhẹ. Vì vậy, bị cáo không phạm tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là ông Lê Văn B theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo gây ra:

Đối với tội Chống người thi hành công vụ: Hành vi của bị cáo Trần Văn Kh đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, là hành vi nguy hiểm cho xã hội; cản trở người thực hiện nhiệm vụ, xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Bị cáo biết rõ các ông Võ Phước Th, Lê Văn B, Võ Đình Phi L, Hoàng Phương Đ là cán bộ công an xã Ngư Thủy đến mời bị cáo về trụ sở Công an xã Ngư Thủy làm việc liên quan đến hành vi bị cáo gây thương tích cho ông D, nhưng bị cáo không chấp hành, đã có những lời lẽ xúc phạm, có hành vi dùng đá ném vào người những người đang thi hành nhiệm vụ. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên, theo kết luận giám định, tại thời điểm phạm tội, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi và xét bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt bị cáo bị truy tố;

Đối với tội Cố ý gây thương tích: Bị cáo đã có hành vi gây thương tích cho ông D theo kết luận giám định là 01%, gây thương tích cho ông Th theo kết luận giám định là 04%; hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên, xét tại thời điểm phạm tội, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi dẫn đến hạn chế về việc tuân thủ quy định của pháp luật. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Trần Văn Kh bị truy tố, thể hiện chính sách nhân đạo và khoan hồng của Nhà nước; phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

Ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo: Trần Văn Kh, tên gọi khác Trần Đức Kh không nhận Bản kết luận điều tra, bản Cáo trạng; không có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án; năm 2021 đã có hành vi gây thương tích cho người khác và đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ngư Thủy, huyện Lệ Thủy xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng nhưng bị cáo chưa chấp hành; đến ngày 06/01/2023, bị cáo sử dụng rựa gây thương tích cho ông Trần D theo kết luận giám định là 01%, dùng đá gây thương tích cho ông Th theo kết luận giám định là 04%. Do đó, nếu không có biện pháp ngăn chặn, bị cáo có thể tiếp tục phạm tội. Vì vậy, HĐXX quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây rựa, 04 viên đá Trần Văn Kh sử dụng gây thương tích ông Trần D và ông Võ Phước Th là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Võ Phước Th không yêu cầu bị cáo bồi thường; bị hại Trần D đã nhận bồi thường số tiền 2.000.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn Kh, tên gọi khác Trần Đức Kh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Văn Kh, tên gọi khác Trần Đức Kh phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và tội Chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

2/ Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134, Điều 38; các điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn Kh, tên gọi khác Trần Đức Kh 09 (Chín) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích;

Áp dụng khoản 1 Điều 330, Điều 38; các điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn Kh, tên gọi khác Trần Đức Kh 06 (sáu) tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội danh trên, buộc Trần Văn Kh, tên gọi khác Trần Đức Kh phải thi hành 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, bắt tạm giam Trần Văn Kh, tên gọi khác Trần Đức Kh tại phiên tòa theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét.

4/ Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Tịch thu tiêu hủy 01 cây rựa, 04 viên đá.

Vật chứng nêu trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/9/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Lệ Thuỷ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình.

5/ Về án phí: Bị cáo Trần Văn Kh, tên gọi khác Trần Đức Kh phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

6/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ