vanban.org

Bản án 62/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 26/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công C phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công C 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/7/2023. Giao bị cáo Nguyễn Công C cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh B quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công C - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công C phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2023/HS-ST
Ngày 26 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Long Nhiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Á.

Ông Cao Hữu Bằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Xuân Diệu – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chánh Thân – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Công C, sinh ngày 19 tháng 01 năm 2001, tại tỉnh B; nơi cư trú: Khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh B; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công C, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1980; vợ Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 2000; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1981 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố C, phường H, thị xã H, tỉnh B.

- Người làm chứng:

1- Trần Minh Q - sinh năm: 1999 (có mặt);

2- Nguyễn Trần T - sinh năm: 1969 (có mặt);

3- Nguyễn Thị P - sinh năm: 1983 (có mặt);

4- Nguyễn Thị Thúy H - sinh năm 1980 (có mặt).

Đồng trú tại: Khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/02/2023, Nguyễn Công C đi uống bia về không thấy mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Thúy H ở nhà nên nghĩ là bà H đi chơi với ông Nguyễn Đức T (sinh năm 1981, ở khu phố C, phường H, thị xã H). C nhớ lại chuyện trước đây ông T đánh bà H nên nảy sinh ý định tìm đánh ông T. C mang theo 01 bình xịt hơi cay và điều khiển xe mô tô 77C1-567.16 đến nhà bà Nguyễn Thị P (sinh năm 1983, ở khu phố H, phường H, thị xã H) để tìm bà H và ông T. Khi đến, C vào khu vực nhà bếp của bà P thì thấy ông T đang ngồi chặt thịt. Ông T hỏi “Bữa nay không đi làm hả”, C nói “Nghe nói chú muốn cho con vô hòm hả, đòi giết con mấy tháng nữa”. Vừa nói xong, C dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt ông T, ông T thấy cay mắt nên bỏ chạy. C lấy con dao ông T dùng để chặt thịt đuổi đánh ông T nhưng không kịp. C quay lại dắt xe mô tô biển kiểm soát 72K1-077.21 của ông T dựng trong sân nhà bà P ra đường bê tông rồi đẩy ngã và dùng dao chém nhiều nhát vào xe. Sau đó, C điều khiển xe mô tô 77C1-567.16 đi về. Trên đường đi, C nảy sinh ý định đốt xe của ông T nên đến tiệm tạp hóa “CB” ở khu phố H, phường H, thị xã H mua 01 bịch xăng và 01 quẹt gas. C quay lại tưới xăng rồi ném bịch nilon vào xe, dùng quẹt gas đốt cháy xe mô tô 72K1-077.21 và ném quẹt gas vào xe đang cháy rồi bỏ đi. Hậu quả: xe mô tô biển kiểm soát 72K1-077.21, nhãn hiệu Suzuki, số loại Hayate bị hư hỏng hoàn toàn.

Theo Kết luận số 12/HĐĐGTS ngày 28/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hoài Nhơn: tại thời điểm ngày 15/02/2023, xe mô tô biển kiểm soát 72K1-077.21 có giá trị 5.500.000 đồng.

Theo Kết luận số 860/KL-KTHS ngày 24/5/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng: “Trên mẫu sản phẩm cháy (mảnh nhựa không rõ hình dạng, kích thước bị cháy than hóa) ghi thu tại vị trí thân xe bên trái của mô tô biển kiểm soát 72K1-077.21 gửi giám định có tìm thấy dấu vết của xăng”.

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn:

+ 01 dao có chiều dài 41cm, cán gỗ dài 12,5cm, đường kính cán 3,5cm, lưỡi dao dài 28,5cm, chiều rộng mặt lưỡi dao 6,5cm, sống lưng dao dài 23cm;

+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 72K1-077.21, nhãn hiệu Suzuki, số loại Hayate, màu đỏ đen;

+ 01 USB bên trong có chứa video diễn biến vụ việc Nguyễn Công C dùng dao chém nhiều nhát vào xe mô tô 72K1-077.21.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Nguyễn Công C đã bồi thường cho ông Nguyễn Đức T số tiền 6.000.000 đồng, ông T không có yêu cầu gì thêm.

Tại Bản Cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 27/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Nguyễn Công C về tội “Hủy hoại tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Bị hại ông Nguyễn Đức T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 72K1-077.21, nhãn hiệu Suzuki, số loại Hayate, màu đỏ đen.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận, giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Công C phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công C từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Về bồi thường thiệt hại: Đã giải quyết xong.

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 dao có chiều dài 41cm, cán gỗ dài 12,5cm, đường kính cán 3,5cm, lưỡi dao dài 28,5cm, chiều rộng mặt lưỡi dao 6,5cm, sống lưng dao dài 23cm;

Tuyên trả cho ông Nguyễn Đức T: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 72K1-077.21 nhãn hiệu Suzuki, loại Hayate, màu đỏ đen, số máy F4E4-12056, số khung 4EE0B0168639.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của bản thân đã sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do bực tức trước đây ông Nguyễn Đức T đánh bà Nguyễn Thị Thúy H là mẹ của bị cáo và hăm dọa đánh bị cáo nên Nguyễn Công C mang theo một bình xịt hơi cay tìm ông T để đánh. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/02/2023, tại nhà bà Nguyễn Thị P ở khu phố H, phường H, thị xã H, C gặp ông T và dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt ông T (chưa gây thương tích), ông T bỏ chạy. C lấy con dao ông T đang chặt thịt đuổi đánh ông T nhưng không kịp. C quay lại dắt xe mô tô 72K1-077.21 của ông T dựng trong sân nhà bà P ra đường bê tông đẩy ngã xe, dùng dao chém nhiều nhát vào xe. Sau đó, C đi về, trên đường đi, C nảy sinh ý định đốt xe của ông T nên đến tạp hóa “CB” mua một bịch xăng giá 20.000 đồng và một quẹt gas. C quay lại chỗ xe mô tô của ông T tưới xăng lên xe và dùng quẹt gas đốt cháy xe mô tô 72K1-077.21 của ông T rồi bỏ đi. Hậu quả xe 72K1-077.21 bị hư hỏng hoàn toàn và giá trị tài sản mà bị cáo làm hư hỏng là 5.500.000 đồng. Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Hủy hoại tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định truy tố là có căn cứ, đúng người đúng tội.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và gây thiệt hại tài sản cho người khác. Bị cáo là người có đầy đủ nhận thức nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi, thể hiện ý thức không chấp hành pháp luật, xem thường quy định của Nhà nước. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Công C chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường cho bị hại 6.000.000 đồng; bị hại đã bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tài sản bị cáo gây thiệt hại giá trị không lớn. Đây các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt. Bị cáo có nhân thân tốt, có việc làm ổn định, có nơi cư trú rõ ràng xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo hưởng hình phạt tù có điều kiện, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục để bị cáo trở thành công dân tốt.

Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về xử lý vật chứng:

+ 01 dao có chiều dài 41cm, cán gỗ dài 12,5cm, đường kính cán 3,5cm, lưỡi dao dài 28,5cm, chiều rộng mặt lưỡi dao 6,5cm, sống lưng dao dài 23cm. Không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

+ 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 72K1-077.21 nhãn hiệu Suzuki, loại Hayate, màu đỏ đen, số máy F4E4-12056, số khung 4EE0B0168639 là tài sản của ông Nguyễn Đức T, ông T yêu cầu được nhận lại nên tuyên trả cho ông T.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 5 năm 2023, giữa Cơ quan điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đề nghị áp dụng pháp luật, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Cần buộc bị cáo Nguyễn Công C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công C phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công C 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/7/2023.

Giao bị cáo Nguyễn Công C cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh B quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Công C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

4. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 dao có chiều dài 41cm, cán gỗ dài 12,5cm, đường kính cán 3,5cm, lưỡi dao dài 28,5cm, chiều rộng mặt lưỡi dao 6,5cm, sống lưng dao dài 23cm;

- Tuyên trả cho ông Nguyễn Đức T: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 72K1-077.21 nhãn hiệu Suzuki, loại Hayate, màu đỏ đen, số máy F4E4-12056, số khung 4EE0B0168639.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 5 năm 2023, giữa Cơ quan điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn).

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Công C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

7. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ