- Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Anh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2023/HS-ST Ngày: 08-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Vũ Thường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trí D
2. Ông Nguyễn Ngọc Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2023/TLST-HS, ngày 15 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Anh D, sinh năm 1980 tại huyện Đ, tỉnh P; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh P; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1954; Có vợ là Trần Thị H, sinh năm 1986 và 01 con, sinh năm 2015.
- Tiền án, tiền sự: Không
- Nhân thân: Tại Quyết định số 116/QĐ-XPVPHC, ngày 28/10/2014 Công an huyện Đoan Hùng đã xử phạt Trần Anh D 500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 03/11/2014 D đã nộp phạt xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/9/2023, tạm giam từ ngày 19/9/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Trần Thị H, sinh năm 1986
Địa chỉ: Khu P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh P. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 55 phút ngày 16/9/2023, Tổ công tác phòng chống ma túy thuộc Công an huyện Đoan Hùng đang làm nhiệm vụ tại khu N, xã C, huyện Đ, tỉnh P phát hiện Trần Anh D, sinh năm 1980 ở khu P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh P có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. D tự giác giao nộp 02 gói đều có đặc điểm gói ngoài là mảnh giấy hai mặt màu trắng bạc, bên trong 02 gói giấy đều chứa chất bột cục màu trắng. D khai nhận đó là ma túy, loại Heroine tàng trữ với mục đích để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D, niêm phong 02 gói giấy bên trong chứa chất bột, cục màu trắng gửi giám định. Ngoài ra còn tạm giữ của D 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 19E-01810, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen đã cũ bên trong lắp sim 0359 115 980; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen, đã cũ, không lắp sim.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đoan Hùng đã trưng cầu giám định.Tại bản KLGĐ số 1199/KLGĐ ngày 18/9/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
" Mẫu chất bột, cục màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,407 gam, loại Heroine.
Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục IA, số thứ tự 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ".
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đoan Hùng, Trần Anh D khai nhận:
Khoảng hơn 08 giờ ngày 16/9/2023, D điều khiển xe mô tô HONDA Wave RSX biển số 19 E1- 018.10 của vợ là chị Trần Thị H, sinh năm 1986 ở khu P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh P đi đến cửa hàng bán điện thoại C của anh Đặng Chiến Th, sinh năm 1987 ở khu N, xã C, huyện Đ để gửi xe. Sau đó, D đi nhờ một người nam giới không quen biết đến thành phố T để tìm mua ma túy. Tại đây, D mua ma túy của một người phụ nữ (D không biết người này họ tên, địa chỉ ở đâu) với số tiền 1.500.0000đ, được 03 gói đều có đặc điểm gói ngoài là mảnh giấy hai mặt màu trắng bạc, bên trong chứa Heroin.
Sau khi mua được ma túy, D tiếp tục xin đi nhờ xe mô tô của người đi đường (D không biết tên tuổi, địa chỉ) về đến cửa hàng của anh Thắng để lấy xe mô tô. D đi mua 01 xi lanh, 01 chai nước cất và đi đến đoạn đường vắng thuộc xã C, huyện Đ, sử dụng hết 01 gói Heroin bằng hình thức hòa với nước cất tiêm trực tiếp vào cơ thể. Hai gói ma túy còn lại, D cất giấu trong người rồi điều khiển xe đi về hướng thị trấn Đ. Khi đi đến khu N, xã C, huyện Đ, tỉnh P thì bị Tổ công tác thuộc Công an huyện Đoan Hùng bắt quả tang như trên.
Trần Anh D còn khai nhận: Khoản hơn 08 giờ ngày 16/9/2023, Vũ Hoàng L, sinh năm 1980, ở Khu Đ, thị trấn Đ, huyện Đ gọi điện thoại cho D hỏi mua 900.000đ ma túy loại Heroin. D đồng ý bán nhưng do không có sẵn ma túy nên D yêu cầu L phải đưa tiền trước để D đi mua. L bảo D đi đến quán bún cá của chị Vũ Phạm Ngọc A, sinh năm 1985, ở Khu H, thị trấn Đ, huyện Đ để lấy số tiền 900.000đ. D đến quán chị A lấy tiền và đi mua ma túy.
Tại cơ quan điều tra, Vũ Hoàng L trình bày: L gọi điện cho D mục đích để nhờ D đi đòi tiền của một số người đang nợ thì D hỏi vay 900.000đ, L đồng ý và bả D đi đến quán bún cá của chị Phạm Vũ Ngọc A để lấy tiền. L đã gọi điện cho chị A hỏi vay 900.000đ và nhờ đưa số tiền này cho D, việc D sử dụng tiền vay làm gì L không biết. L không thừa nhận việc hỏi mua ma túy của D.
Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKSĐH ngày 14/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh P đã truy tố bị cáo Trần Anh D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Anh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
+ Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Anh D từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu để tiêu hủy: 01 bì niêm phong dán kín số 1199/KLGĐ của Phòng KTHS - Công an tỉnh Phú Thọ bên trong là ma túy (Heroine) hoàn trả sau giám định và sim điện thoại số 0359.115.980 thu giữ của bị cáo.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen đã cũ thu giữ của bị cáo.
- Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đoan Hùng đã trả lại cho chị Trần Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 19E-01810, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen, đã cũ, không lắp sim.
+ Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo Trần Anh D không tranh luận gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Cơ quan điều tra - Công an huyện Đoan Hùng; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận:
Vào hồi 09 giờ 55 phút ngày 16/9/2023, tại đoạn đường thuộc khu Ngọc Chúc 3, xã Chí Đám, huyện Đ, tỉnh P, bị cáo Trần Anh D tàng trữ trên người 0,407 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích để bán thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện Đoan Hùng phát hiện bắt quả tang.
Hành vi tàng trữ 0,407 gam ma túy loại Heroine nhằm bán kiếm lời của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Do vậy, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, sử dụng chất ma túy của nhà nước, góp phần làm lan truyền tệ nạn nghiện hút ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, tuy nhiên đã có một lần bị cơ quan Công an xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã xóa tiền sự).
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, là thương binh hạng A nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, trên cơ sở để phục vụ công tác đấu tranh chống, phòng ngừa chung tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là áp dụng hình phạt tù với mức đủ để bị cáo tỉnh ngộ, sớm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen đã cũ, là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng liên lạc để mua bán ma túy, nên sẽ tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với số ma túy cùng toàn bộ bao gói của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ gửi trả sau giám định là vật cấm lưu hành, sim điện thoại số 0359.115.980 thu giữ của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX, BKS 19E-01.810 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen, đã cũ, không lắp sim là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị H. Chị H không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H là đúng quy định pháp luật.
. Đối với anh Vũ Hoàng L, bị cáo khai anh L nhờ bị cáo đi mua ma túy, tuy nhiên anh L không thừa nhận. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ nào khác nên cơ quan điều tra không xử lý đối với L là đúng quy định pháp luật.
. Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo Trần Anh D, quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ở đâu, nên không có căn cứ xử lý.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Căn cứ điểm a, b khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Anh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Trần Anh D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 16/9/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu để tiêu hủy: 0,289gam chất bột cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong trong 01 bì niêm phong dán kín số 1199/KLGĐ của Phòng KTHS - Công an tỉnh Phú Thọ gửi trả sau giám định và sim điện thoại số 0359.115.980 thu giữ của bị cáo.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, số sê ri 353161117140395 thu giữ của bị cáo.
(Các vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng đang quản lý).
- Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đoan Hùng đã trả lại cho chị Trần Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 19E-01810 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen, đã cũ, không lắp sim.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Anh D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - VKSND huyện Đoan Hùng; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Công an huyện Đoan Hùng; - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng; - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ; - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Vũ Thường |