- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu H - Nguyễn Khắc D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu H. Bà H được ly hôn với ông Nguyễn Khắc D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31/7/2023 V/v: “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Tấn Thành
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quang Đông
2. Bà Đặng Ngọc Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Nương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không có.
Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 171/2023/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 5 năm 2023, về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thu H; địa chỉ ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)
* Bị đơn: Nguyễn Khắc D; địa chỉ số E, khóm V, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 04/5/2023 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Sau khi tìm hiểu một thời gian bà và ông Nguyễn Khắc D tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long ngày 08/5/2019. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2020 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau; ông D sống không chung thủy về đánh đập bà, nên vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay. Bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông D. Về con chung, có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/6/2020, hiện nay đang sống chung với bà, bà H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Nguyễn Khắc D không có bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện ông Nguyễn Khắc D có địa chỉ tại thành phố Vĩnh Long để yêu cầu xin ly hôn; cho nên, đây là vụ án dân sự tranh chấp về hôn nhân và gia đình “Ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn Nguyễn Khắc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông D vẫn cố tình vắng mặt, cho nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H, Hội đồng xét xử thấy: Bà H và ông D chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long ngày 08/5/2019, nên được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau và đã ly thân khoảng 03 năm nay, không còn quan tâm lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thông báo cho ông D biết việc bà H xin ly hôn nhưng ông D không có ý kiến phản đối. Như vậy, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà H và ông D đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, bà H yêu cầu được ly hôn với ông D là có cơ sở chấp nhận phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về quan hệ con chung: Bà H, ông D chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/6/2020, hiện đang sống chung với bà H. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông D đều vắng mặt và cũng không có ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của bà H. Do đó, để nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu B nên giao cháu B cho bà H nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu H. Bà H được ly hôn với ông Nguyễn Khắc D.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 14/6/2020 cho bà Nguyễn Thị Thu H nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của con trẻ khi cần thiết có thể thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thu H chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002074, ngày 26/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, nên bà H không phải nộp thêm.
5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bà Nguyễn Thị Thu H biết, được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Khắc D được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh VL; - VKSND cùng cấp; - Chi cục THA TPVL; - Các đ/s. - Ủy ban nhân dân phường Tân Ngãi, TPVL; (số 30, ngày 08/5/2019) - Lưu: Hồ sơ,… | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Võ Tấn Thành |