vanban.org

Bản án 62/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Phương D được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 07/9/2016 cho anh Nguyễn Hữu T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), chị Phan Thị Phương D không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phan Thị Phương D được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T."
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỐT NỐT
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-6-2023
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Việt Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Viết Ngoan

2/ Bà Trần Thúy Kiên

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoài Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 82/2023/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2023/QĐXX-ST ngày 25 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2023/QĐST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Phan Thị Phương D, sinh năm 1995 (xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 3, ấp T, xã M, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Bị đơn: anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1994 (vắng mặt lần 2 không lý do)

Nơi cư trú: khu vực P, phường T, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:

Chị và anh T tiến tới hôn nhân thông qua quen nhau, thấy hợp nhau nên được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới năm 2015. Đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường T, quận Thốt Nốt. Thời gian đầu cuộc sống gia đình rất hạnh phúc đầm ấm người một công việc làm để lo tương lai sau này cho con. Ngày gần đây anh T chỉ biết ăn chơi, nợ nần không lo gì cho mẹ con chị, chị có khuyên chồng lo làm ăn, nhưng anh T không nghe từ đó xảy ra mâu thuẩn.

Về tình cảm đối với anh T không còn nữa nên xin ly hôn.

Về con chung: có con chung là cháu Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 07/9/2016. Khi ly hôn chị nhường quyền nuôi dưỡng cháu V cho anh T nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng, nợ: không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn quá trình giải quyết dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh T.

Để giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh T. Tại biên bản xác minh ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, bà Trịnh Thị N là mẹ ruột anh T cho biết chị D và anh T là vợ chồng có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống anh chị có con chung là cháu Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 07/9/2016, V đang do Thọ trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên nhân ly hôn không rõ. Anh T vẫn còn đăng ký thường trú tại khu vực P, phường T, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Hiện nay anh T đã đi làm ăn xa và thỉnh thoảng có về nhà chứ không bỏ địa phương.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn chị Phan Thị Phương D có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Hữu T vắng mặt lần 02 không rõ lý do.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: chị Phan Thị Phương D được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 07/9/2016 cho anh Nguyễn Hữu T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên, chị D không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, riêng và nợ: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Trường hợp sau này nếu phát sinh tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: đương sự phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

[1] Về tố tụng: theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đây là vụ án về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Nguyễn Hữu T có nơi cư trú tại: P, phường T, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Dung có đơn đề nghị vắng mặt, bị đơn anh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị D và anh T là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Về nguyên nhân dẫn đến ly hôn chị D cho rằng do anh T chỉ biết ăn chơi nợ nần không lo gì cho mẹ con chị, chị có khuyên chồng lo làm ăn, nhưng anh T không thay đổi. Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh T nhiều lần để tham gia tố tụng về yêu cầu xin ly hôn của chị D, nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu của chị D cho thấy anh T đã bỏ mặc cuộc hôn nhân này cho chị D tự mình giải quyết và xét thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh T đã trầm trọng, cuộc sống chung đã không còn tồn tại vì đã ly thân từ lâu, không ai quan tâm ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị D được ly hôn với anh Thọ.

Về con: theo lời khai của chị D và kết quả xác minh của Tòa án, chị D và anh T có con chung là cháu Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 07/9/2016. Thời gian ly thân cháu V đang được anh Thọ trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn chị Dung nhường quyền nuôi dưỡng cháu V cho anh Thọ trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (trên 18 tuổi), chị không thực hiện cấp dưỡng nuôi con. Do đó, cần giao cháu V anh T tiếp tục nuôi dưỡng để tránh làm xáo trộn cuộc sống sinh hoạt của cháu là phù hợp.

Xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng, tuy nhiên do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, riêng và nợ: chị Du không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được giải quyết trong vụ án khác.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: nguyên đơn phải nộp theo quy định.

Lời phát biểu của kiểm sát viên về phần thủ tục tố tụng, cũng như đề xuất ý kiến về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định và quyết định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, 227, 228, Điều 235, 238, 262, 264, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51, 53, 56, 57, 59, 69, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Phương D được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 07/9/2016 cho anh Nguyễn Hữu T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), chị Phan Thị Phương D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị Phan Thị Phương D, không ai được cản trở chị D thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Phan Thị Phương D phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được chuyển từ số tiền tạm nộp án phí sang án phí đã nộp theo biên lai số 0003802 ngày 27/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị Phương D, anh Nguyễn Hữu T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Cỡ chữ