vanban.org

Bản án 62/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu P với bị đơn ông Nguyễn Thanh L về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”;

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu P được ly hôn với ông Nguyễn Thanh L. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 25/9/2016 và Nguyễn Phạm Phương N1, sinh ngày 09/8/2018 cho bà Phạm Thị Thu P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời ông L không phải cấp dưỡng nu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Thu P - Nguyễn Thanh L"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu P với bị đơn ông Nguyễn Thanh L về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 62/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/5/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trinh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Quang Hoạch;

Bà Đào Thị Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 911/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2023/QĐST – HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu P, sinh năm 1990; cư trú tại: Số 1547, ấp T, xã B, huyện T1, tỉnh Đ; vắng mặt tại phiên tòa;

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1990; cư trú tại: Số 289, ấp TT, xã B, huyện T1, tỉnh Đ; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 24/8/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Thu P trình bày:

Sau thời gian quen biết, tìm hiểu; bà và ông Nguyễn Thanh L tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã B, huyện T1, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 26/BM ngày 01/3/2011. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó ông L nghiện ma túy, không lo làm ăn. Ông L đã nhiều lần phải đi cai nghiện ma túy bắt buộc nhưng không thay đổi, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không thể xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh L.

+ Về con chung: Bà và ông L có 02 con chung là Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 25/9/2016 và Nguyễn Phạm Phương N1, sinh ngày 09/8/2018. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung; Không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tuy nhiên, bị đơn ông Nguyễn Thanh L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ, tài liệu có liên quan về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa:

+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Thẩm quyền giải quyết vụ án, việc thu thập chứng cứ, thời hạn giải quyết vụ án, gửi hồ sơ và tống đạt các văn bản tố tụng là đúng quy định của pháp luật. Việc xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý đến khi xét xử là đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

+ Về đường lối giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Giao hai con chung là Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 25/9/2016 và Nguyễn Phạm Phương N1, sinh ngày 09/8/2018 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời, ông L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

1.1 Nguyên đơn bà Phạm Thị Thu P khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, bị đơn ông Nguyễn Thanh L có nơi cư trú tại ấp T, xã B, huyện T1, tỉnh Đ nên xác định bà P là nguyên đơn, ông L là bị đơn và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 2, 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2 Nguyên đơn bà Phạm Thị Thu P có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn Thanh L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Phương, ông L.

Về nội dung:

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu P và ông Nguyễn Thanh L tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã B, huyện T1 cấp giấy chứng nhận kết hôn số 26/BM ngày 01/3/2011 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Phương, ông L là hợp pháp.

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Thị Thu P trình bày, trong quá trình chung sống ông L không lo làm ăn, bị nghiện ma túy và đã nhiều lần phải đi cai nghiện ma túy bắt buộc nhưng không thay đổi; vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không thể xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông, bà được ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Tòa án làm việc nhưng ông L không có mặt; Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông L; Tuy nhiên, ông L không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, có đủ cơ sở xác định ông L không mong muốn hàn gắn tình cảm hay tiếp tục xây dựng cuộc sống chung vợ chồng với bà P; Hôn nhân của bà P, ông L đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà P, ông L được ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

2.2 Về con chung: Bà P, ông L có 02 con chung là Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 25/9/2016 và Nguyễn Phạm Phương N1, sinh ngày 09/8/2018. Quá trình giải quyết vụ án, bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con và hiện hai con cũng đang do bà P nuôi dưỡng. Xét yêu cầu của nguyên đơn và việc cần thiết cho sự phát triển ổn định của trẻ; căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao hai con chung là Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 25/9/2016 và Nguyễn Phạm Phương N1, sinh ngày 09/8/2018 cho bà Phạm Thị Thu P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời ông L không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3 Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

2.4 Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Phương phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu P với bị đơn ông Nguyễn Thanh L về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”;

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu P được ly hôn với ông Nguyễn Thanh L.

2. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 25/9/2016 và Nguyễn Phạm Phương N1, sinh ngày 09/8/2018 cho bà Phạm Thị Thu P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời ông L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Bà Phạm Thị Thu P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng được tính trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001611 ngày 26/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom được tính trừ vào tiền án phí bà Phương phải nộp. Bà Phương đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Thi hành bản án của Tòa án: Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy tại Điều 2, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ