- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Phan Văn Th tranh chấp ly hôn với chị Võ Thị Hồng G, tranh chấp nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2023/HNGĐ-ST Ngày 16- 02- 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Phi Hùng
2. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Thy - Thư ký Toà án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 458/2022/TLST-HNGĐ ngày 22/11/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 272/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
- NgU đơn: Anh Phan Văn Th, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: tổ 9, ấp Phú Q, xã PhTh, huyện PT, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Chị Võ Thị Hồng G, sinh năm 1985.
Nơi cư trú: tổ 9, ấp Phú Q, xã PhTh, huyện PT, tỉnh An Giang.
(Anh Th yêu cầu vắng mặt, chị G vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và lời trình bày của ngU đơn có tại hồ sơ, thể hiện:
Vào năm 2007, anh và chị G được gia đình tổ chức lễ cưới, tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã PhTh (Giấy chứng nhận kết hôn số 28, ngày 18/4/2008). NgU nhân mâu thuẫn: do G chi xài phung phí, không tiết kiệm trong chi tiêu, có khU nhưng không sửa đổi, có cự cãi nhau và đã ly thân từ tháng 9/2020 đến nay, từ khi ly thân không ai quan tâm đến ai, nay tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với G.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên: Phan Thị Bảo Tr, sinh ngày 08/4/2008, Phan Việt L, sinh ngày 17/7/2010 do anh nuôi dưỡng sau khi ly thân và Phan Thị Bảo U, sinh ngày 20/7/2019 do G nuôi dưỡng sau khi ly thân đến nay. Yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Phan Thị Bảo Tr và Phan Việt L. Đồng ý cho G tiếp tục nuôi con chung tên Phan Thị Bảo U, không phải cấp dưỡng cho nhau trong việc nuôi con.
Tài sản chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử, nhưng bị đơn đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.
Tòa án tiến hành xác minh được chị Phan Thị H (chị ruột của anh Th) cho biết: Sau khi thành vợ chồng thì Th, G sống ở gia đình bà vài tháng thì Th lên thành phố Hồ Chí Minh làm công ty xây dựng, G thì ở nhà. Mâu thuẫn gia đình bắt nguồn từ tài chính do G bị nợ nần, Th có đứng ra trả nợ cho G được 02 lần, mặc dù có khU nhưng G vẫn không sửa đổi, Th buồn nên có đi nhậu, vợ chồng cự cãi và không tìm được tiếng nói chung nên đã ly thân từ tháng 9/2020 đến nay. Khi ly thân, G dẫn theo đứa con tên U, Th nuôi 02 đứa con tên Tr, L.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT
Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của ngU đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Qua đó, cho thấy bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Th được ly hôn với chị G. Về con chung: để đảm bảo sự phát triển ổn định của các con chung, cần giao cháu Phan Thị Bảo Tr, sinh ngày 08/4/2008 và Phan Việt L, sinh ngày 17/7/2010 cho anh Phan Văn Th tiếp tục nuôi dưỡng. Giao cháu Phan Thị Bảo U, sinh ngày 20/7/2019 cho chị Võ Thị Hồng G tiếp tục nuôi dưỡng. Các bên không phải cấp dưỡng cho nhau trong việc nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét; về án phí, anh Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: NgU đơn thực hiện quyền khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn có nơi cư trú tại xã PhTh, huyện PT, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân gia đình “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố Tụng Dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: NgU đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ngU đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Về yêu cầu ly hôn: anh Phan Văn Th và chị Võ Thị Hồng G có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và cuộc sống hôn nhân vợ chồng nếu muốn có được hạnh phúc dài lâu, đạt được mục đích thì phải bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, phải biết thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau, nhưng anh chị không làm được điều đó. Tòa án đã triệu tập chị G để tham gia hòa giải hai lần và trong suốt quá trình giải quyết vụ án chị đều không đến, cuộc sống không tìm được tiếng nói chung, cự cãi nhau và đã ly thân thời gian dài không còn chung sống, anh Th cương quyết yêu cầu ly hôn, nên chấp nhận cho anh Phan Văn Th được ly hôn với chị Võ Thị Hồng G là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con:
Trường hợp không thỏa thuận được việc nuôi con chung thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Cháu Phan Thị Bảo Tr, sinh ngày 08/4/2008, cháu Phan Việt L, sinh ngày 17/7/2010 do anh Th nuôi dưỡng từ khi ly thân và cháu Phan Thị Bảo U, sinh ngày 20/7/2019 do chị G nuôi dưỡng từ khi ly thân đến nay. Để đảm bảo môi trường phát triển của con được ổn định, thuận lợi trong việc học tập, phù hợp với nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, cần tiếp tục giao 02 con chung tên Phan Thị Bảo Tr và Phan Việt L cho anh Th được chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Phan Thị Bảo U cho chị G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Th không yêu cầu cấp dưỡng và do không làm việc được với chị G nên không ghi nhận được ý kiến về việc có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hay không, do đó các bên không phải cấp dưỡng cho nhau trong việc nuôi con chung. Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Ghi nhận anh Th xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Th phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị G không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
TU xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn Th.
1. Về hôn nhân: anh Phan Văn Th được ly hôn với chị Võ Thị Hồng G.
Giấy chứng nhận kết hôn số 28, ngày 18/4/2008 do Uỷ ban nhân dân xã PhTh, huyện PT cấp không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm Bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Phan Thị Bảo Tr, sinh ngày 08/4/2008 và Phan Việt L, sinh ngày 17/7/2010 cho anh Phan Văn Th được tiếp tục nuôi dạy đến thành niên hoặc tự lập được (hiện anh Th đang nuôi 02 cháu Tr và L). Giao cháu Phan Thị Bảo U, sinh ngày 20/7/2019 cho chị Võ Thị Hồng G được tiếp tục nuôi dạy đến thành niên hoặc tự lập được (hiện chị G đang nuôi cháu U). Anh Th, chị G không phải cấp dưỡng cho nhau trong việc nuôi con chung.
Anh Th, chị G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung và phải tạo điều kiện thuận lợi cho nhau cùng các thành viên gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.
Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
4. Về nợ chung: Ghi nhận anh Phan Văn Th xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: anh Phan Văn Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0005794 ngày 22/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện PT. Chị Võ Thị Hồng G không phải chịu án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện PT; - Chi cục THADS huyện PT; - UBND xã PhTh, huyện PT tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhung |