- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn L - Lê Vân T - T/C ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA -VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2023/HNGĐ-ST Ngày 29-6-2023 Về: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Mộng Thu
2. Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Tín, thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 141/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023, về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXX-ST ngày 29 tháng 5 năm 2023; quyết định hoãn phiên tòa số:/2023/QĐST-HPT ngày 13-6-2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1991; địa chỉ: F, Tổ E, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Vân T, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt lần 2 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 02 năm 2023 và quá trình tố tụng tại tòa ông Nguyễn Văn L trình bày: Ông với Lê Vân T chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào ngày 14-8-2012. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc. Tuy nhiên, qua thời gian chung sống với nhau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, rạn nứt về tình cảm.
Từ những mâu thuẫn liên quan đến tình cảm, kinh tế, tài chính lo cho cuộc sống gia đình, không có sự chia sẻ đồng cảm với nhau, cả hai không thể giải quyết được dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng, ảnh hưởng cuộc sống của 02 bên. Đã nhiều lần nhờ đến gia đình hai bên can thiệp nhưng đều không giải quyết được mâu thuẫn.
Mặc dù gia đình chúng tôi cố gắng khuyên răn, hàn gắn nhưng do tình cảm vợ chồng không còn. Nay tôi làm đơn yêu cầu được ly hôn.
- Về con chung: có 02 con Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 05-02-2012 và Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 25-12-2013. Ông L yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu bà T cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông L không yêu cầu tòa án giải quyết.
Từ khi thụ lý Toà án đã triệu tập ông T1 đến Tòa để giải quyết ly hôn nhưng bà T nhiều lần vắng mặt không có lý do nên không xác định rõ yêu cầu.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: quá trình thụ lý, thu thập chứng cứ Thẩm phán và nguyên đơn tuân theo quy định của pháp luật. Bị đơn không tuân theo quy định của pháp luật.
Tại phiên xét xử, Hội đồng xét xử, thư ký và nguyên đơn tuân theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, quá trình tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn L yêu cầu ly hôn bà Lê Vân T, xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà T hiện đang sinh sống tại huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Lê Vân T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Về nội dung:
Xét về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn L và bà Lê Vân T sống chung từ năm 2012, đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên hôn nhân giữa ông L và bà T là hôn nhân hợp pháp. Theo ông L xác nhận: Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: Do không hòa hợp về tính tình, bất đồng quan điểm sống và không tìm được tiếng nói chung dẫn đến việc vợ chồng tự sống ly thân đến nay. Nay ông L nhận thấy không còn tình cảm đối với bà T nên yêu cầu được ly hôn. Về phía bà T, mặc dù đã được Tòa án thông báo đến Tòa để giải quyết ly hôn nhưng không có ý kiến phản hồi, chứng tỏ bà T không muốn duy trì cuộc sống chung với ông L và trên thực tế thì vợ chồng tự sống ly thân. Xét thấy, hôn nhân của 2 người lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông L yêu cầu ly hôn có cơ sở, xét chấp nhận.
Xét về con chung: Từ sau khi sống ly thân đến nay ông L là người nuôi con, hơn nữa nguyện vọng con chung muốn sống cùng ông L. Để bảo đảm quyền lợi của con chung và tránh làm xáo trộn của sống của con. Vì vậy giao con cho ông L tiếp tục nuôi dưỡng. Ông L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Sau này ông L, bà T còn có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con sẽ thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Tài sản chung và nợ chung: Ông L không yêu cầu nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 19, Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn L đối với bà Lê Vân T.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn L được ly hôn bà Lê Vân T.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 05-02-2012 và Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 25-12-2013 cho ông L nuôi dưỡng, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Bà T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông L không yêu cầu Tòa án không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn L nộp 300.000(Ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001664 ngày 26-4-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền. Ông L đã nộp xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt quyền kháng cáo bản án 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT; - Viện kiểm sát ND h.Long Điền; - Thi hành án dân sự h.Long Điền; - UBND xã An Ngãi, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Thanh Trúc |