- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị T và anh L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thái Thị Ngọc T, cho ly hôn giữa chị Thái Thị Ngọc T và anh Huỳnh Hoài L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19-6-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Tấn Dũng.
2. Ông Trương Thanh Quang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2023, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2023/QĐXX-ST ngày 15 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thái Thị Ngọc T, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Ấp X, xã TP1, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Hoài L, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Ấp X, xã TP1, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 4 năm 2023 và các bản khai đề ngày 25 tháng 4 năm 2023, ngày 15 tháng 5 năm 2023, nguyên đơn chị Thái Thị Ngọc T trình bày: Vào năm 2015, chị có quen với anh Huỳnh Hoài L, qua thời gian tìm hiểu hai bên tiến đến hôn nhân và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, sau khi cưới chị về sống bên chồng. Chị và anh Huỳnh Hoài L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP1, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu vợ chồng sống chung với nhau rất hạnh phúc, đến tháng 02 năm 2023 thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, anh Huỳnh Hoài L có tính gia trưởng và hay ghen tuông vô cớ, sống chung không hợp. Chị với anh Huỳnh Hoài L ly thân, chị về sống với cha mẹ ruột cho đến nay. Chị nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không hàn gắn tình cảm được nữa nên chị làm đơn yêu cầu Toà án cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Hoài L. Về con chung: Hai vợ chồng sống chung với nhau có 01 con chung tên Huỳnh Huy H sinh ngày 06 tháng 6 năm 2016, chị đồng ý giao con chung cho anh Huỳnh Hoài L được tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản khai ngày 25 tháng 4 năm 2023, anh Huỳnh Hoài L trình bày: Anh và vợ anh cưới nhau vào năm 2013, trước khi cưới có quen biết tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại xã TP1, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Trong cuộc sống gia đình vẫn vui vẻ, hạnh phúc. Trong khoảng thời gian sau vợ anh có nhắn tin, điện thoại cho một người bạn và cứ thế là xảy ra cải vả. Anh đã khuyên vợ anh nhiều lần vì con nên sống hạnh phúc mà vợ anh cương quyết đòi ly hôn để đến với mối quan hệ mới, bỏ chồng bỏ con. Sau khi đi lên thành phố vẫn điện thoại qua lại, anh đã bắt được nhiều lần, cho nên vợ anh sợ anh, phải đòi ly hôn để được tự do đến bên người đó mà không cần sợ anh nữa. Yêu cầu ly hôn anh không đồng ý lý do là vẫn còn thương vợ, anh muốn hàn gắn hạnh phúc để nuôi con, có cha có mẹ cùng nhau sống. Yêu cầu ly hôn của vợ anh là anh không chấp nhận, anh không làm gì sai. Về con chung: có 01 người con chung tên Huỳnh Huy H, sinh ngày 06 tháng 6 năm 2016, nay anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu gì hết. Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Anh Huỳnh Hoài L đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Thái Thị Ngọc T được ly hôn với anh Huỳnh Hoài L; về con chung: Giao con chung Huỳnh Huy H, sinh ngày 06 tháng 6 năm 2016 cho anh Huỳnh Hoài L được tiếp tục nuôi dưỡng, chị Thái Thị Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Huỳnh Hoài L không có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Chị Thái Thị Ngọc T và anh Huỳnh Hoài L trình bày không có, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nguyên đơn chị Thái Thị Ngọc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Huỳnh Hoài L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Thái Thị Ngọc T và anh Huỳnh Hoài L là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Thái Thị Ngọc T đối với anh Huỳnh Hoài L, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Ngọc T thì cuộc sống của chị và anh Hoài L không hạnh phúc từ tháng 02 năm 2023 do bất đồng quan điểm sống, anh Hoài L có tính gia trưởng và hay ghen tuông vô cớ, sống chung không hợp, còn anh Hoài L cho rằng chị Ngọc T đòi ly hôn để đến với mối quan hệ mới, bỏ chồng bỏ con. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị Ngọc T với anh Hoài L hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Ngọc T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Ngọc T ly hôn với anh Hoài L.
Về việc nuôi con: Chị Thái Thị Ngọc T đồng ý giao con chung là Huỳnh Huy H, sinh ngày 06 tháng 6 năm 2016 cho anh Huỳnh Hoài L được tiếp tục nuôi dưỡng, chị Thái Thị Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con, anh Huỳnh Hoài L cũng yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Huỳnh Huy H, sinh ngày 06 tháng 6 năm 2016, không yêu cầu chị Ngọc T cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị Ngọc T và anh Hoài L không còn sống chung và hiện nay thì cháu Huy H do anh Hoài L chăm sóc, nuôi dưỡng, vì vậy để ổn định việc sinh hoạt, học tập của cháu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Hoài L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Hoài L không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
Về chia tài sản: Chị Thái Thị Ngọc T và anh Huỳnh Hoài L cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thái Thị Ngọc T, cho ly hôn giữa chị Thái Thị Ngọc T và anh Huỳnh Hoài L.
2. Về việc nuôi con chung:
2.1. Anh Huỳnh Hoài L được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung là Huỳnh Huy H, sinh ngày 06 tháng 6 năm 2016.
2.2. Chị Thái Thị Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con.
2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Thái Thị Ngọc T chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004339 ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Hồng Ngự; - UBND xã TP1, huyện HN; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |