- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở — án dân sự — "Ông Đinh Tri Th kiện đòi đất"
- Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 34; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 10,49,50,52,105,107, 123 Luật đất đai 2003 và các Điều 26, 99, 100,166,170, 202, 203 Luật đất đại 2013, khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBT…
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Đất đai; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 105 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2023/DS-ST Ngày: 13-9-2023 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận QSD đất |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Từ Thị Hải Dương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Ngọc; Bà Nguyễn Thị Hoè
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Lệ Anh- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 13/9/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 40/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2845/2023/QĐXXST-DS ngày 17/8/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đinh T Th, sinh năm 1953; Địa chỉ: Thôn Y, xã Yên H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đinh Minh H, sinh năm 1953; địa chỉ: Thôn Y, xã Yên H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình, ông H có mặt, ông Th vắng mặt.
Bị đơn: Bà Đinh Thị Ng; sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn Y, xã Yên H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người có quyền lợi và Ng vụ liên quan:
+ UBND huyện Minh H. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bắc V, Chủ tịch UBND huyện Minh H. Đại diện theo uỷ quyền: Ông Đinh Minh T– Phó Trưởng phòng Tài nguyên-Môi trường huyện M, có đơn đề nghị xử vắng mặt.
+ UBND xã Yên H, huyện Minh H
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Thủy L – Chủ tịch UBND xã Yên H, huyện Minh H có đơn đề nghị xử vắng mặt.
+ ông Ông Minh T (chồng bà Ng) chết nên những người con của ông T bà Ng tham gia tố tụng gồm:
- Ông Đinh Thanh T; địa chỉ: Thôn Y, xã Yên H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- Ông Đinh Văn H; địa chỉ: Thôn Y, xã Yên H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
+ Ông Đinh Quang D; địa chỉ: Thôn Y, xã Yên H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
+ Ông Đinh Thanh Th; địa chỉ: Thôn Y, xã Yên H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
+ Bà Đinh Thị Thu T; địa chỉ: Làng N, xã Yên Ng, huyện Ng Đàn, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
(Anh T, anh H, anh D, anh Th và chị T đã uỷ quyền cho bà Đinh Thị Ng tham gia tố tụng)
- Người làm chứng: Ông Đinh Xuân Th; địa chỉ: địa chỉ: Thôn Y, xã Yên H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phía nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp (thửa 493, tờ bản đồ số 18; địa chỉ: Hói Tràn, thôn Yên Định, xã Yên H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình) do bố mẹ ông (cụ ông Đinh Châu, cụ bà Đinh Thị Tường, hiện nay đều đã mất) và anh trai của ông là Đinh Minh T khai hoang từ năm 1960. Đến năm 1972, ông lấy vợ sinh con nên được bố mẹ cho ra riêng và chia cho ông 02 thửa đất (bố mẹ chỉ nói bằng miệng, không có văn bản) với diện tích thửa thứ nhất khoảng 500m2, có tứ cạnh như sau: Phía Bắc giáp thửa ông Đinh Quý và Đinh Minh Chức, phía Đông giáp thửa ông Đinh Minh Hoá, phía Tây giáp đường điện cao thế, phía Đông giáp thửa ông Đinh Minh Trí; thửa thứ hai khoảng 300m2 (là đất ruộng lúa 2 vụ); có tứ cạnh như sau: Phía Đông và Bắc giáp thửa ông Đinh Minh Trí, phía Tây giáp phần đất của Uỷ ban xã đang quản lý và phía Nam giáp phần đất còn lại của ông Th. Hai thửa đất này được vợ chồng ông sử dụng liên tục và trồng các cây ngắn ngày như sắn, khoai, bắp và trồng lúa. Năm 1993-1994, nhà nước có chủ trương chia đất chia rừng và cho phép chuyển đổi cây trồng, cấp giấy phép sử dụng đất cho mỗi người dân. Năm 2008, ông Th chuyển sang trồng keo trên thửa đất khoảng 500m2 có chung một thửa đất mà anh trai ông là ông Đinh Minh Trí cho ông T mượn và hàng năm bố và anh trai ông vẫn đóng thuế nông nghiệp cho nhà nước đầy đủ dù đất của ông vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông có làm đơn gửi lên UBND xã xin cấp đất nhưng phía Uỷ ban xã không có văn bản trả lời, cũng không cử cán bộ địa chính về thực địa tại thửa đất ông Th đang sử dụng. Đến năm 2022, sau khi thu hoạch vụ thứ 3 cây keo xong thì hộ bà Đinh Thị Ng (vợ ông Đinh Minh T, ông T đã chết) là cháu ruột của ông đã khiếu nại ông Th tranh chấp đất đai của bà Ng phần đất ông Th đang sử dụng từ trước đến nay.
Ngày 04/10/2022, khi địa chính UBND xã Yên Hoá đến xác minh lại ranh giới theo đơn khởi kiện của bà Ng thì ông Th mới biết vợ chồng ông Đinh Minh T – bà Đinh Thị Ng đã chiếm đoạt 02 thửa đất mà bố mẹ ông Th để lại cho ông để đưa vào làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông T bà Ng.
Ngày 14/10/2022, chính quyền xã mời ông Th và bà Ng lên giải quyết và hoà giải nhưng không thành. Ông Th không nhất trí với kết luận tại buổi hoà giải của UBND xã Yên Hoá vì bà Đinh Thị Ng không chứng minh được nguồn gốc cấp đất cho gia đình bà từ đâu mà có để được UBND huyện Minh Hoá cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhận thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm nên ông khởi kiện ra Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 493, tờ bản đồ số 18, có diện tích 14.067m2, cấp ngày 21/11/2008 tại địa chỉ: Hói Tràm, thôn, Yên Định, xã Yên Hoá, huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình mang tên ông Đinh Minh T, bà Đinh Thị Ng để trả lại diện tích 800m2 cho gia đình ông Th để gia đình ông sử dụng.
Bị đơn bà Đinh Thị Ng tại bản tự khai và tại phiên hòa giải trình bày: Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh T Th vì các lý do:
Về nguồn gốc thửa đất: Thửa đất của ông Đinh T Th đang tranh chấp có nguồn gốc được bố mẹ chồng giao cho vợ chồng bà canh tác từ năm 1080. Tuy nhiên đến năm 1990, vợ chồng bà mới đến sử dụng phần đất hiện tại đang tranh chấp với ông Th. Vợ chồng làm nhà tạm bằng gỗ trên thửa đất và khai hoang phục hoá thêm, đắp bờ làm ruộng, nuôi cá, trồng lúa và cây hoa màu trên đất và sinh sống ổn định một thời gian. Năm 2013, khi ông Đinh Minh T đau ốm, vợ chồng chuyển lên nhà chính ở thôn Yên Định để ở nhưng vẫn sử dụng, canh tác trên thửa đất đang tranh chấp.
Năm 2001 được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và năm 2008 thì được cấp đổi giấy chứng nhận.Trong quá trình cấp đổi và làm thủ tục cấp GCNQSDĐ do chồng bà là ông Đinh Minh T tự làm nên bà không biết chính xác các thủ tục trên. Năm 2021, chồng bà – ông Đinh Minh T chết. nên Các vấn đề về tranh chấp đất đai với ông Th bà không nắm rõ, chỉ biết hiện tại thửa đất 493, TBĐ 18 tại Hói Tràm, thôn, Yên Định, xã Yên Hoá, huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình đã được UBND huyện Minh Hoá cấp cho vợ chồng bà từ năm 2001, cấp đổi lại 2008. Do đó,đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà không đồng ý, đề nghị Toà án xem xét không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi và Ng vụ liên quan UBND huyện Minh H tại Công văn số 28/TNMT ngày 17/8/2023 trình bày ý kiến như sau:
Thực hiện Dự án An toàn lương thực đối với công tác giao đất, giao rừng, UBND huyện đã giao cho Hạt Kiểm lâm làm chủ đầu tư để thực hiện công tác giao đất, giao rừng và tham mưu cho UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSD đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện huyện trong đó có xã Yên H. Năm 2001, gia đình ông Đinh Minh T, bà Đinh Thị Ng được UBND huyện giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu.
Năm 2008, thực hiện đo vẽ lại bản đồ địa chính lâm nghiệp và bản đồ địa chính theo hệ tọa độ VN2000 nên cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân cho phù hợp với hệ thống bản đồ mới. Hộ gia đình ông Đinh Minh T, bà Đinh Thị Ng được kê khai cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất được giao năm 2001, cụ thể:
Ngày 20/3/2008, ông Đinh Minh T có đơn xin cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Ngày 11/7/2008, được UBND xã Yên H xác nhận về nguồn gốc sử dụng từ tháng 4/2001, thửa đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch. Được Văn phòng đăng ký đất đai huyện Minh H đã thẩm tra và thửa đất đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 21/11/2008, UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đinh Minh T, bà Đinh Thị Ng, giấy chứng nhận có số phát hành AO 753576, số vào sổ H03594 đối với thửa đất số 493 tờ bản đồ số 18 xã Yên H, diện tích 14.067 m2, mục đích sử dụng: Đất trồng rừng sản xuất, thời hạn sử dụng đến tháng 4/2051; Địa chỉ thửa đất: Hói Tràn, thôn Yên Định, xã Yên H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình.
Khi thực hiện cấp đổi GCNQSD đất vấn đề nguồn gốc, tình trạng tranh chấp, hiện trạng sử dụng đã được UBND xã Yên H kiểm tra xác nhận; được văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thẩm tra. Việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử đụng đất được thực hiện đảm bảo về trình tự thủ tục theo quy định của Luật Đất đai 2003; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ và các văn bản hiện hành liên quan. Do vậy, việc ông Đinh Trí Th yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Đinh Minh T, bà Đinh Thị Ng tại thửa đất số 493 tờ bản đồ số 18 xã Yên H là không có cơ sở.
Người có quyền lợi và Ng vụ liên quan UBND xã Yên H tại Công văn số 354/UBND ngày 03/8/2023 trình bày ý kiến như sau:
Thực hiện dự án an toàn lương thực đối với công tác giao đất, giao rừng. UBND huyện đã giao cho Hạt Kiểm lâm làm chủ đầu tư để thực hiện công tác giao đất, giao rừng và tham mưu cho UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Minh H trong đó có xã Yên H. Năm 2001, gia đình ông Đinh Minh T, bà Đinh Thị Ng được UBND huyện Minh H giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Năm 2008 nhà nước cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân cho phù hợp với hệ thống bản đồ mới theo hệ tọa độ VN 2000. Hộ gia đình ông Đinh Minh T, bà Đinh Thị Ng được kê khai cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất được giao năm 2001. Ngày 21/11/2008, UBND huyện Minh H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đinh Minh T, bà Đinh Thị Ng, giấy chứng nhận có số phát hành AO 753576, số vào sổ H03594 đối với thửa đất số 493 tờ bản đồ số 18 xã Yên H, diện tích 14.067 m2, mục đích sử dụng: Đất trồng rừng sản xuất, thời hạn sử dụng đến tháng 4/2051; địa chỉ thửa đất: Hói Tràn, thôn Yên Định, xã Yên H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình.
Về trình tự thủ tục cấp đổi GCNQSD đất được thực hiện đảm bảo theo quy định. Do vậy, việc ông Đinh Trí Th yêu cầu hủy GCNQSD đất đã cấp cho ông Đinh Minh T, bà Đinh Thị Ng tại thửa đất số 493 tờ bản đồ số 18 xã Yên H là không có cơ sở.
Theo đơn yêu cầu xem xét, thẩm định của phía nguyên đơn, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất tranh chấp. Theo dẫn đạc của ông Đinh Minh H (đại diện theo ủy quyền của ông Th), Hội đồng xem xét thẩm định xác định phần đất tranh chấp nằm trên thửa đất số 493, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Hói Tràn, xã Yên H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Đinh Minh T và bà Đinh Thị Ng và một phần nằm trên các thửa đất RSX 454, RSX 760. Phần đất tranh chấp trên thửa đất 493, tờ bản đồ số 18 có diện tích 1.707,5 m2. Trên phần đất tranh chấp chỉ có một số loại cây dại, không có giá trị.
Tại phiên tòa, ông H đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc từ bố mẹ ông Th cho ông Th sử dụng từ năm 1972 và ông Th sử dụng ổn định cho đến năm 2022 thì phát sinh tranh chấp với bà Ng do bà Ng sử dụng trồng cây trên đất ông Th. Khi hòa giải tại UBND xã Yên H thì ông mới biết được thửa đất đó đã dduowwcj cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ng, ông T. Ông giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ng, ông T và buộc bà Ng phải trả lại thửa đất cho ông Th.
Bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn vì thửa đất đó được nhà nước giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2001 và cấp đổi năm 2008. Đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
.Về tố tụng:
Quan hệ pháp luật đang tranh chấp là tranh chấp về quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 9 Điều 26 và Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
.Về nội dung vụ án:
. Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành AO 753576, số vào sổ H03594 đối với thửa đất số 493 tờ bản đồ số 18 xã Yên H, diện tích 14.067 m2 mang tên ông Đinh Minh T, bà Đinh Thị Ng, Hội đồng xét xử thấy:
Về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp: Theo phía nguyên đơn trình bày có nguồn gốc từ bố mẹ ông Th cho ông Th sử dụng tù năm 1972. Ông Th sử dụng cho đến năm 2022 thì tranh chấp với bà Ng. Bà Ng lại cho rằng nguồn gốc thửa đất tranh chấp được bố mẹ chồng giao cho vợ chồng sử dụng từ năm 1980 nhưng đến năm 1990 thì vợ chồng bà mới sử dụng. Cả nguyên đơn và bị đơn đều không có chứng cứ chứng minh được đất là do người khác cho, không chứng minh được thời điểm sử dụng đất trước năm 1980.
Căn cứ hồ sơ địa chính do UBND huyện Minh H và UBND xã Yên H cung cấp thì thửa đất có tranh chấp là đất lâm nghiệp, được UBND huyện giao cho ông Đinh Minh T và bà Đinh Thị Ng sử dụng trồng rừng theo dự án an toàn lương thực và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001. Năm 2008, thực hiện đo vẽ lại bản đồ địa chính theo hệ tọa độ VN 2000 nên cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ đảm bảo phù hợp hệ thống bản đồ mới. Hộ ông T, bà Ng có đơn xin cấp đổi lại giấy chứng nhận theo quy định. Hộ ông T, bà Ng được cấp thửa 493, tờ bản đồ 18 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 753576, số vào sổ H03594 ngày 21/11/2008 với diện tích 14.076 m2. Trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà Ng đúng quy định của pháp luật.
Ông Th yêu cầu bà Ng trả lại hai mảnh đất tổng 800 m2 nhưng qua thẩm định thì đất tranh chấp 1.705,5 m2 nằm trên thửa đất 493, tờ bản đồ 18 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ng, ông T. Trên phần đất tranh chấp không có tài sản, cây cối gì của ông Th.
Mặt khác qua kiểm tra hồ sơ địa chính quản lý tại xã thì hộ ông Đinh Trí Th đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng từ năm 2001. Ngày 21/11/2008, UBND huyện Minh H cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đinh Trí Th, bà Đinh Thị Tiến, giấy chứng nhận có số phát hành AO 753553, số vào sổ H 03571 đối với thửa đất số 525 tờ bản đồ số 18 xã Yên H, diện tích 19.450 m2, mục đích sử dụng: Đất trồng rừng sản xuất, thời hạn sử dụng đến tháng 4/2051; địa chỉ thửa đất: Hói Tràn, thôn Yên Định, xã Yên H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình. Thửa đất này năm liền kề thửa 493, TBĐ số 18 và độc lập với thửa 493, gia đình ông Th đã sử dụng ổn định từ năm 2008 đến nay, không phải hộ gia đình ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có sự chồng lấn giữa hai thửa đất. Như vậy, lời trình bày của nguyên đơn và đại diện của nguyên đơn cho rằng vợ chồng ông Đinh Minh T và bà Đinh Thị Ng lấn chiếm 800 m2 đất của gia đình ông là không có cơ sở để chấp nhận.
Từ những phân tích trên thấy rằng yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Trí Th đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất 493, tờ bản đồ 18, diện tích 14.067 m2, được UBND huyện Minh H cấp cho ông Đinh Minh T và bà đinh Thị Ng để trả lại 800m2 đất cho gia đình ông là không có cơ sở. Do đó, cần bác yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Trí Th.
. Về chi phi xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ và chi phí định giá:
́
Theo yêu cầu của nguyên đơn , Toà án đã tiến hành lập Hội đồng xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ và đi ̣nh giá tài sản . Chi phi xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ và đi ̣nh
́
giá tài sản là 4.100.000 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhâ ̣n nên nguyên đơn ông Đinh T Th phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ và đi ̣nh giá. Đại điện theo uỷ quyền – Ông Đinh Minh H đã nộp đủ.
[.3]. Về án phí: Ông Đinh Trí Th khở i kiê ̣n không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, ông Th thuộc đối tượng người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 34; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 10,49,50,52,105,107, 123 Luật đất đai 2003 và các Điều 26, 99, 100,166,170, 202, 203 Luật đất đại 2013, khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, xử :
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh T Th đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất 493, tờ bản đồ 18, diện tích 14.067 m2, địa chỉ: Hói Tràn, thôn Y, xã Y, huyện M, tỉnh Quảng Bình được UBND huyện M cấp cho ông Đinh Minh T và bà đinh Thị Ng và không chấp nhận yêu cầu buộc bà Ng trả lại trả lại 800 m2 đất cho gia đình ông Đinh T Th tại thửa đất 493, tờ bản đồ 18.
2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá: Ông Đinh Trí Th phải chịu chi phi xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ và đi ̣nh giá tài sản là
4.100.000 đồng.
́ Ông đã nộp đủ.
3. Về án phi: Ông Đinh T Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
́
4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa tống đạt.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Cục THADS tỉnh Quảng Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vu ̣ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Từ Thị Hải Dƣơng |